Thuỷ Tổ


        Đây là thôn Ngọc Hiên xã Thanh Hưng huyện Thanh Chương.
Nơi các vị tiền bối họ đàng ngoài Yên Thành đi bộ vào nhận họ
và tế Tổ trong các năm Khoa Yến.
                                                           (Bấm vào mũi tên để xem phim)

                                   
                                          video

video
Phim nâng cấp nhà thờ chi trưởng Phan Đình tại Ngọc Hiên 2013
                                                                         

Trong dịp về tế Tổ tại Ngọc Hiên ngày mồng mười tháng Giêng năm Nhâm Thìn 2012, tôi được gặp Bác cửa trưởng Phan Đình Đệ.  Thật tuyệt vời khi có một người cao tuổi như bác (78 tuổi) đã say mê sao chép và gửi cho tôi qua Email về bản dịch cuốn gia phả họ Phan ta cách đây 60 năm. Hôm nay xin trân trọng giới thiệu cùng đồng tộc về bản dịch của các vị tiền nhân để lại. Mời con cháu cùng tham khảo để tự hào dòng họ chúng ta
                                                       Ngày 18 tháng Giêng năm Nhâm Thìn  2012 
                                                                                 Phan Bá Ước  

                          Bác Phan Đình  Đệ - 1935 (bên trái ảnh trên ) Mobine: 0946535207       

                                                                      
                                                                       LỜI NÓI ĐẦU

Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn
Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu
Người ta có nguồn gốc từ đâu?
Có tổ tiên trước rồi sau có mình.!.
      Nay mình muốn biết nguồn gốc cho rõ ràng, thế hệ cho chính xác, công đức tổ tiên khỏi mai một, dòng dõi con cháu khỏi sai lầm phải có quyển Gia phổ biên chép cho minh bạch.
      Họ Phan Đình ta từ ông Thỉ Tổ Hầu Hàn, Hầu Giám chính quán ở xã Việt Yên Hạ, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh ở đời vua Thái Tông triều nhà Trần, sau khi vì loạn lạc di cư sang Nông Ná ( tức Phong Sơn), huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An, con cháu ngày một đông. Hiện nay có 3 chi, một chi ở Ngọc Hiên, một chi ở Tri Lễ, một chi ở Thanh Bang. Hiện còn phổ kí chữ Hán biên chép đầy đủ. Nay diễn dịch ra quốc văn để con cháu ngày sau biết rõ.
                                                 
                                                                            Ngày 4 tháng 2 năm Quý Tỵ
                                                                   Dương lịch ngày 19 tháng 3 năm 1953.
                                                                               Phụng dịch ( đến đời 16 )
                                                                                         Thế tôn đời 17
                                                                                     Phan Đình Trạc

                                    ( Dịch theo quyển gia phả chữ Hán của ông Phan Đình Côn
                                                                            viết năm Tự Đức thứ 32 năm 1878)
                                                             Chép tay lại ngày 28 tháng 12 năm 1961
                                                                                           Thế tôn đời 18
                                                                                       Phan Đình Đệ

                                                       Vi tính và bổ sung tháng 1 năm 2010
                                                                                           Thế tôn đời 18
                                                                                        Phan Đình Đệ

 


ÔNG TỔ ĐỜI THỨ NHẤT

       Vị hiệu : Thái Thỉ Tổ khảo Giám sát ngự sử, lịch sỹ hiến sử kiêm thập tam đạo thừa tuyên hành khiển Phan Tướng công Khâm mông lịch triều sắc tặng chư tôn mỹ tự tôn thần.
       Nghĩa là : Ông Thỉ Tổ là quan giám sát ngự sử, thăng chức hiến sử gồm cả chức hành khiển coi 13 đạo thừa tuyên là 13 tỉnh quan tướng công họ Phan được các đời vua tặng sắc tôn thần.
       Lịch sử: Nguyên chánh quán của Ngài ở xã Việt Yên Hạ, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Tùng ảnh, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh ). Về đời Trần Thái Tông lên 9 tuổi đậu thần đồng. Đến năm hiệu Kiến Trung Trần Thái Tông (1226-1232) sang học ở xã Nông Ná (nay là xã Phong Sơn, huyện Thanh Chương) rồi lấy bà con gái họ Vương Đình ở đó. Năm 16 tuổi đậu Thái học sinh (tiến sĩ) rồi làm quan Giám sát ngự sử thăng quan hành khiển coi 13 đạo thừa tuyên (13 tỉnh), năm 19 tuổi sinh con trai là Hầu Hàn, Ngài khai khẩn ruộng đất, chiêu tập thêm dân bao gồm khu Diên Tràng 4 mẫu 2 sào gọi là Nương Dương Bạn làm nhà ở đó, trước có 2 ao liền nhau (nay đang còn). Năm hiệu Nguyên Phong Trần Thái Tông (1251-1258), Hầu Hàn lên 15 tuổi thi đậu Thái học sinh (tiến sĩ). Cha con làm quan đồng triều. Năm Thiệu Long Trần Thánh Tông thứ 3 (1260) Ngài di cư sang Tràng Học. Nương Dương Bạn để lại cháu đích tôn cai quản. Năm Trùng Hưng (1285-1293) Ngài 70 tuổi xin về hưu, năm hiệu Hưng Long (Trần Anh Tông) (1293-1313) vừa 94 tuổi Ngài mất. Ngày 10 tháng 1 năm ấy. Thi hài Ngài táng tại núi Tràng Học. Năm Khai Hữu- Trần Hiến Tông (1329-1341) được nhân dân ái mộ lập đền thờ Ngài, ngày càng thiêng. Năm hiệu Cảnh Hưng – Lê Hiến Tông (1740-1787) phong sắc làm thần dân xã phụng sự. Năm Mậu Thân (Tây Sơn) (1788) bị loạn lạc sắc phong cháy cả. Xét phổ kí đời Quang Thiệu Lê Chiêu Tông (1510-1522) có chép mộ Ngài toạ tân hướng ất nhưng không biết phần oanh (mộ) ở đâu cả, nên bao giữ cả núi Tràng Học, thượng chí đỉnh núi, hạ chí Đồng Điền. Đông giáp Bầu Giầy, tây giáp rú Nhà Hằng. Đền thờ Ngài nay ở núi Tràng Học.

                                                      BÀ TỔ THỨ NHẤT
      
       Vị hiệu : Thái Thỉ Tổ tỉ Giám sát viện Phan phu nhân.
       Lịch sử : Bà con gái họ Vương Đình ở Nam Đàn. Tên tuổi không rõ (vì phổ kí rách nát). Bà phong tư quốc sắc, tính nết hiền hoà. Gặp những năm mất mùa đói kém, bà đem tiền lúa phát chẩn cho nhân dân. Đến năm Thiệu Bảo – Trần Nhân Tông (1279-1285), bà 71 tuổi thọ chung, táng tại rú Nhà Hằng, ông bà sinh hạ được con trai là Hầu Hàn và một con gái bị chết sớm thất truyền.
  Sắc của vua Thành Thái phong tặng cho ngài như sau:
        Nghệ An tỉnh, Nam Đàn huyện, Hiến Lạng xã, Ngọc Hiên thôn phụng sự.
Giám sát ngự sử kiêm Thập tam đạo thừa tuyên hành khiển chi thần, nậm trước linh ứng, hướng lai vị hữu dự phong tứ, kim phi thừa cảnh mệnh diến niệm, thần ma trước (có thể trứ), phong vi dực bảo trung hưng linh phù chi thần, chuẩn y cựu phụng sự thần kì tướng hữu bảo ngã lê dân khâm.
                                               Thành Thái nhị niên, nhị nguyệt, nhị thập nhật.
      Dịch nghĩa : Cho phép làng Ngọc Hiên, xã Hiến Lạng, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phụng thờ: thần Giám sát ngự sử kiêm chức coi 13 đạo thừa tuyên (13 tỉnh) có công linh trước, từ trước chưa được phong. Nay vâng lệnh lớn nghĩ đến công ơn của thần mà phong làm thần, chuẩn y cho thần đã được thờ trước, giúp đỡ cho dân đen của ta phải kính lấy.
                      Thành Thái năm thứ hai, ngày 20 tháng 2 (năm Canh Dần 1980)
        Dấu của vua : sắc mệnh chi bàu (sắc hiện còn tại nhà thờ đại tôn).

                                                 ÔNG TỔ THỨ HAI
   
        Vị hiệu : Đại tổ khảo bản xứ yên dân lợi vật, quản Sơn Tây hàn lâm đại thần bao phong hiển thánh đại thần đại vương Phan tướng công, khâm mông lịch triều sắc tặng chư tôn mỹ tự tôn thần.
        Nghĩa là : Ông Đại tổ là quan đại thần ở viện Hàn Lâm, quản trị tỉnh Sơn Tây có công yên dân lợi vật, vua phong hiển thánh đại thần đại vương, được các đời vua phong sắc làm tôn thần.
       Lịch sử: Ngài 15 tuổi đậu Thái học sinh (tiến sĩ) năm hiệu Nguyên Phong – Trần Thái Tông (1258) làm quan Hàn lâm viện đại học sĩ đồng triều với cha. Năm Hầu Giám về hưu, ngài cũng xin về để nuôi cha, năm hiệu Thiệu Long – Trần Thánh Tông (1258-1273), Ngài thừa lệnh cha về Việt Yên, lấy mả ông bà (cha mẹ Hầu Giám) di táng sang Rú Trổ (Tri Lễ, Đại Đồng, Thanh Chưong) thượng tự gốc cây dẻ, hạ chí Trỗ Bàu Trau, hai bên giáp ruộng, toàn cả Rú Trổ là mộ địa. Khi ấy Ngài lấy nửa thôn Tha Lễ (Cổ Hiệu) đặt tên là xã Hiến Lãng, lấy chia làm 3 thôn: Ngọc Hiên, Tri Lễ, Thọ Sơn. Ngài bao cả vườn ở Rú Tràng Học để làm nhà và trường dạy học. Ngài khai dân lập ấp, thiết trường dạy học, học trò ngày càng đông, thành đạt nhiều, cho nên rú đó gọi là rú Tràng Học. Ngài thác thỉ sự văn học khoa cử cho xã Hiến Lạng (nay là xã Thanh Hưng). ở Dương Bạn Ngài giao tộc trưởng quản canh. Năm  hiệu Xương Phù - Trần Đế Hiện (1377-1363), Ngài 97 tuổi thọ chung táng tại rú Trổ xã Phong Sơn. Nhân dân Hiến Lạng ái mộ công đức Ngài. Đến năm Quang Thái (1389-1398) lập đền thờ ngài ở phía nam rú Tràng Học, linh ứng lắm. Đến năm hiệu Cảnh Hưng vua Lê Hiến Tông tặng sắc thần cho Ngài. Hiện nay sắc phong đền thờ đang còn, phần mộ không tường nên bao quản cả rú Rò, giao cho chi họ Thanh Bang quản cố.

BÀ TỔ THỨ HAI
       
          Vị hiệu: Đại tổ tỉ Hàn lâm viện Phan phu nhân.
          Lịch sử: Tên tuổi huý kĩ vì phổ kí rách nát nên không rõ. Mộ bà táng tại rú Nhà Hằng phía nam mộ Hầu Giám cách nhau 161 trượng, nên từ trước đến giờ họ phải giữ thượng chí đỉnh núi, hạ chí mạnh hói, tây tự thượng Chò Lò điền, đông giáp núi Tràng Học, hiện có bằng chứng.
Hai ông bà sinh hạ được một người con trai Phan Tử Vân (ông tổ đời thứ ba).
    Sắc của ngài hiện đang còn tại nhà thờ đại tôn như sau: Tự thiên sinh đức duy nhạc giáng thần tại thượng dương dương thuỳ vạn cổ, quân cao chi tự uy linh, trạc trạc trợ tam quân dực vận chi huân kí đa mặc tướng chi công nghi cử bao phong chi điểm yên. Tự Vương tiến phong. Vương vị lân cư chính phủ lễ hựu đăng trật ứng bao phong mỹ tự nhất tự khả bao phong bản xứ yên dân lợi vật, quản Sơn Tây hàn lâm hiển thánh đại thần đại vương cố sắc.
                             Cảnh Hưng tứ thập tứ niên, thất nguyệt, nhị thập lục thập nhật.
       Dịch nghĩa : Từ trời sinh ra đức, núi non giáng được thần, lồng lộng bề trên để lại muôn thuở, phụng thờ từ lâu uy linh rạng rỡ giúp ba quân công lao to lớn đã nhiều công lao nên phong và khen là phép vậy.
Tự vương (vua nói) tiến phong. Ngôi vua có lễ đăng quang nay phong thần yên dân lợi vật của bản xứ đã từng quản trị tỉnh Sơn Tây ở viện Hàn lâm làm đại thần đại vương hiển thánh cho nên sắc ban.
                        Cảnh Hưng năm thứ 44, ngày 26 tháng 7 (Năm Quý Mão – 1753)

ÔNG TỔ ĐỜI THỨ 3
   
     Vị hiệu : Tiên thế tổ khảo quan viên tử Phan quý công, tự Tử Vân, hiệu đệ nhất thị dụ hậu tiên sinh.
      Lịch sử: Tên chữ Ngài là TỬ VÂN, sinh năm hiệu Khai Thái – Trần Minh Tông (1324-1329) lên 15 tuổi văn học ưu trường, đức hạnh thuần tuý nhưng thi không đậu. Đến năm 26 tuổi lấy bà là con gái đầu họ Nguyễn tên là Thị Dịch, Ngài ham học dạy học trò đông thành đạt nhiều. Năm hiệu Long Khánh - Trần Duệ Tông sinh được con trai là Phan Đình Cư, năm hiệu Thuận Thiên - Lê Thái Tổ (1428-1443) ngài 82 tuổi thọ chung táng tại rú Trổ. Mộ địa không rõ vì phổ kí rách nát.

                                                  BÀ TỔ THỨ 3
    
       Vị hiệu : Tiên thế tổ tỉ quan viên tử Phan chính thất Nguyễn Thị hàng nhất hiệu Trinh Cẩn nhụ nhân.
       Lịch sử : Tên bà là NGUYỄN THỊ DỊCH. Năm hiệu Trùng Quang thứ tư - Trần Đế Quý Khoáng (1412) bà 77 tuổi thọ chung táng tại rú Trổ một bên mộ ông. Không rõ phần oanh ở đâu vì phổ kí rách nát.
   Hai ông bà sinh được một người con trai Phan Đình Cư (ông tổ thứ tư).

ÔNG TỔ THỨ 4
   
  Vị hiệu : Tiên tổ khảo Phan quý công tự Đình Cư hiệu đệ nhất thí dụ quyết tiên sinh.
      Lịch sử : Ngài tên là ĐÌNH CƯ, sinh năm hiệu Long Khánh thứ hai – Trần Duệ Tông (1374) kế theo nghiệp học. Lấy bà Lê Thị Đồng sinh được con trai Đình Hắc. Ngày 19 tháng 6 năm Cảnh Thống thứ ba - Lê Hiến Tông (1500) Ngài 78 tuổi thọ chung, táng tại rú Trổ, phần oanh cũng không rõ.

BÀ TỔ THỨ 4
    
  Vị hiệu : Bà tên LÊ THỊ ĐỒNG ngày 19 tháng 6 năm Cảnh  Thống thứ năm (1502) bà 74 tuổi thọ chung táng tại rú Trổ, phần oanh không rõ. Hai ông bà sinh được con trai Phan Đình Hắc ( ông tổ đời thứ năm ).(Rú Trổ, Cây Dẻ hai tên cùng là một)

ÔNG TỔ THỨ 5
    
       Vị hiệu : Tiên tổ khảo lĩnh tổng trưởng Phan quý công, hiệu đệ nhất, thị chất phác.
        Lịch sử : Tên huý là PHAN ĐÌNH HẮC, tính nết hiền lành, ăn nói đứng đắn, dân xã kính phục bầu làm tổng trưởng (cai tổng) lấy bà Trần Thị Viết sinh được ba con trai, 76 tuổi về hưu, thọ 79 tuổi. Táng tại xứ Đập xã ( Ngọc Hiên) mộ vẫn còn, cây cối sầm uất, chi họ ta phụng thủ.

                                                  BÀ TỔ THỨ 5
    
      Bà con thứ họ Trần tên là THỊ VIẾT 76 tuổi thọ chung, táng tại xứ đồng Hến gần hói (Ngọc Hiên) mả hiện còn, hai ông bà sinh hạ được 3 con trai.
       Trưởng Phan Đình Lương nhà tại Rú Tràng Học (chữ lót Phan Đình chi Ngọc Hiên).
       Thứ hai : Phan Tuấn Nghệ cư thôn Tri Lễ, chữ lót Phan Tuấn chi Tri Lễ.
       Con út: Tên không rõ, di cư sang Thanh Bang, chữ lót Phan Duy (chi Thanh Bang) để tiện việc giữ gìn mộ tổ.

                    

ÔNG, BÀ TỔ THỨ 6
   
     Vị hiệu: Tiên tổ khảo Phan quý công, Tự Đình Lương hiệu đệ nhất, thị đôn mậu, phủ quân.
      Lịch sử : Ngài tên ĐÌNH LƯƠNG con đầu ông Đình Hắc, 49 tuổi thọ chung táng tại xứ Đường quan gần giếng Quan (Ngọc Hiên) nay mả hiện còn.
       Lịch sử bà: Con gái họ Trần, thọ 51 tuổi. Mả táng xứ cồn Hươu (Ngọc Hiên) hiện còn. Hai ông bà sinh được con trai Phan Đình Nên (ông tổ thứ 7).

ÔNG BÀ TỔ THỨ 7
   
      Vị hiệu: Tiên tổ khảo Phan Quý Công tự Đình Nên hiệu Đệ nhất thị đôn tín phủ quân.
     Lịch sử: Ngài tên PHAN ĐÌNH NÊN lấy bà Nguyễn Thị Cao thọ 71 tuổi, mả táng xứ Cây Tắt làng Phú Thọ nay vẫn còn.
     Lịch sử: Bà tên NGUYỄN THỊ CAO thọ 66 tuổi, mả táng xứ Cây Tắt bên cạnh ông (táng song bồn).
Con trai là: Phan Đình Đạo (ông tổ thứ 8).

ÔNG, BÀ TỔ THỨ 8

       Vị hiệu: Tiên tổ khảo Phan Quý Công, Phan Đình Đạo, đệ nhất thị trung lược phủ quân.
      Lịch sử: Ngài tự CHÍNH ĐẠO, lấy bà Lê Thị Trung thọ 73 tuổi thọ chung, táng tại xứ Hạ cồn Quỳnh thôn Tri Lễ nay vẫn còn.
     Lịch sử: Bà LÊ THỊ TRUNG thọ 69 tuổi, táng tại xứ Đường Quan phía tây mộ ông Phan Đình Lương hiện vẫn còn.
Ông, bà sinh được 2 người con trai:
-         Con trưởng: PHAN ĐÌNH NƯỚC cư ở Tràng học sinh ra ông Đồng Thanh (đời thứ 9) chi trưởng bây giờ.

-         Con thứ: PHAN ĐÌNH QUẾ (đời thứ 9) được cha mẹ cho 9 sào vườn ở cồn Quỳnh và cư ở đó.
                 Đình Quế  sinh Đình Bút ( tức Đình Quý) đời thứ 10
                 Đình Bút sinh Vân Công (đời thứ 11)
                Vân Công sinh Đình Thiết (đời 12) và Đình Thái (đời 12) bị phạp
                 Đình Thiết sinh Đình Đỉnh (đời 13) và Đình Vinh (đời 13) bị phạp.
                 Đình Đỉnh sinh Đình Thiều (đời 14)
                 Đình Thiều sinh ra 4 trai
a.      Đình Phúc (đời 15 bị phạp)
b.     Đình Phê (đời 15)
c.     Đình Phác (đời 15)
d.     Đình Phẩm (đời 15)
b. Đình Phê sinh Đình Đoàn (đời 16); Đình Đoàn sinh Đình Luân (đời 17)
Đình Luân sinh 5 trai gái là :
1b. Đình Thân (đời 18). Đình Thân sinh ra Đình Trần (đời 19). Đình Trần sinh ra Đình Chinh (đời 20) và 4 gái : Mai, Quyên, Tươi, Vui.
2b. Đình Cương (đời 18) sinh 6 gái: Hoà, Thuận, Ngọc, Lan, Huệ, Phong.
3b. Đình Huân (đời 18) liệt sĩ.
4b. Đình Luận (đời 18). Đình Luận sinh ra Đình Sơn (đời 19), Đình Lĩnh (đời 19) và 2 gái: Thị Hồng, Thị Hoa.
5b. Đình Thựu (đời 18). Đình Thựu sinh 3 trai:
-         Đình Hải (đời 19); Đình Hải sinh Thị Oanh, Thị Thanh
-         Đình Nam (đời 19); Đình Nam sinh Đình Hùng (đời 20), Đình Tráng (đời 20).
-         Đình Dũng (đời 19) sinh Thị Hường, Thị Huyền, Thị Thuỷ.
c. Đình Phác sinh Đình Chúc (đời 16) phạp.
Con cháu ông Đình Phê ở Hiệu Thiện - xã Xuân Sơn - Đô Lương - Nghệ An.
e.      Đình Phẩm sinh ra Đình Lâm (đời 16); Đình Lâm sinh ra Đình Hồng (đời 17); Đình Hồng sinh ra Đình Ngọc (đời 18), Thị Thanh, Thị Hoa; Đình Ngọc sinh ra Đình Anh, Đình Đức (đời 19), Thị Điệp; Đình Anh sinh ra Đình Việt (đời 20).
               ( Gia phổ chi Học Sơn họ Phan Đình phân chi này từ cụ tổ Phan Đình Quế trở xuống đã dịch  từ chữ Hán sang quốc ngữ tại Ông Phan Đình Trần xã Xuân Sơn,  Đô Lương. Còn từ cụ tổ thứ 9 trở xuống viết dưới đây là hậu duệ của cụ tổ  Phan Đình Nước thuộc chi trưởng).

         -  Gia phả có nói : Vào triều Nguyễn năm Thành Thái thứ 3 (1892) có chi Tiên Hội con cháu tổ Chính Đạo lần thứ 8 lần đầu tiên vào phụng tự, lại đến năm Thành Thái thứ 6 (1895) có chi Yên Thành đến theo họ. Từ đó các nơi nói trên hàng năm đến ngày lễ trọng “xuân tự thu thường” đều đến bái cúng tổ tiên.

ÔNG BÀ TỔ THỨ 9
   
     Vị hiệu: Tiên tổ khảo Phan quý công, tự Đình Nước hiệu đệ nhất thị chất phác phủ quân.
      Lịch sử: Ngài tên PHAN ĐÌNH NƯỚC thọ 31 tuổi. Mộ táng tại Cồn Độn, làng Phú Thọ, xã Phong Sơn, hiện còn.
      Lịch sử: Bà tên không rõ, chỉ biết thọ 62 tuổi. Mộ táng tại mồ ông Xầm, Phú Thọ, Phong Sơn.
Ông bà sinh ra con trai Phan Đồng Thanh (ông tổ thứ 10).

ÔNG BÀ TỔ THỨ 10
    
     Vị hiệu: Tiên tổ khảo tiền truyền đạo Phan Quý công tự Đồng Thanh hiệu đệ nhất phủ quân.
      Lịch sử: Tên chữ ĐỒNG THANH theo đạo Phật lấy bà Trần Thị Chiến sinh 6 người con trai, thọ 89 tuổi, mộ táng tại Đồng Hến, đến năm Minh Mệnh nguyên niên (1820) cải táng vào xứ Đồng Chang sau lại cải táng về xứ Nhà Hằng, hiện còn.
      Lịch sử: Bà TRẦN THỊ CHIẾN, thọ 68 tuổi, táng tại xứ Nương ra ở làng Ngọc Hiên mộ hiện còn, có 6 người con trai:
       - Con trưởng: PHAN ĐÌNH THỤ, cháu là Đình Hạp, Đình Hạp sinh ra Đình Chước, Đình Chước sinh ra Đình Vững, Đình Vững sinh ra Đình Vỹ. Đến đây chi này phạp.
      - Con thứ 2: PHAN ĐÌNH NHẬM, tức là ông thỉ tổ chi trưởng ra bây giờ, ngài sinh ra 3 con trai: Trưởng Phan Đình Phương, thứ hai Phan Đình Thuân, thứ ba Phan Đình Thích . Sinh hạ mãi mãi.
      - Con thứ 3: PHAN ĐÌNH BÁ (phạp) lập tự Đình Tín, Đình Tín phạp lập tự Đình Bạt. Đình Bạt sinh tự.
      - Con thứ 4: PHAN ĐÌNH BẠNG, sinh ra Đình Du, Đình Du sinh ra Đình Nhượng, Đình Nhượng sinh ra Đình Hậu, Đình Hậu sinh ra Đình Sự. (cửa ông Uỷ).
      - Con thứ 5: PHAN ĐÌNH HÀNH, Đình Hành sinh ra Đình Tư, Đình Tư sinh ra Đình Ná, Đình Ná sinh ra Đình Gia, Đình Gia sinh ra Đình Cầu, Đình Cầu sinh ra Đình Châu, Đình Đường; Đình Châu sinh  (liệt sĩ); Đình Đường sinh ra Đình Thìn, Đình Ngọ, Đình Mão, Đình Hợi;  Đình Thìn sinh ra Đình Đại, Đình Đồng; Đình Ngọ sinh ra Đình Đoàn, Đình Định; Đình Mão sinh ra Đình   ; Đình Hợi sinh ra Đình   , Đình
      - Con thứ 6: PHAN ĐÌNH CHAO (phạp).

     ÔNG TỔ THỨ 11
(Thỉ tổ cửa trưởng)
      Vị hiệu: Tiên tổ khảo tiền hương lão Phan quý công, tự Đình Nhậm, đệ nhị lang thị đôn mẫn phú quân.
      Lịch sử: Ông tên là PHAN ĐÌNH NHẬM sinh ngày 19 tháng 6 Canh Dần (1650), con thứ hai ông Đồng Thanh, 88 tuổi thì chết (1737), mộ táng tại Cây Tắt, Phú Thọ hiện còn.
      Lịch sử bà: Bà tên làTHỊ XÂN thọ 69 tuổi chết ngày 14 tháng 10, mộ táng tại Đồng Triềng, hiện còn. Ông bà sinh 3 con trai:
     Trưởng: PHAN ĐÌNH PHƯƠNG, thứ hai Đình Thuân, thứ ba Đình Thích.
Phan Đình Phương là thỉ tổ thứ hai chi trưởng ta, sinh ra Đình Lan, Đình Lan sinh ra Đình Biền, Đình Biền sinh ra 4 con trai, 2 gái. Trưởng là Đình Mẫu, thứ hai là Đình Hữu, thứ ba là Đình Lịch (tức là ông Hưu ta), thứ tư là Đình Doãn, hai con gái là Phan Thị Mão và Thị Niên.
     Thứ 2 PHAN ĐÌNH THUÂN sinh ra Đình Tuần, Đình Tuần sinh ra Đình Sử, Đình Sử sinh ra Đình Khương, Đình Tường, Đình Năng. Đình Khương sinh ra Đình Hoán (phạp), Đình Yến (phạp), Đình Bật (phạp), Đình Kiển, Đình Gia (phạp). Đình Kiển sinh ra Đình Biển, Đình Thiện (phạp). Đình Biển sinh ra Đình Minh, Đình Chính, Đình Đính. Đình Tường sinh ra Đình Thành, Đình Thành sinh ra Đình Thể. Đình Thể sinh ra Đình Quân, Đình Hải, Đình Hà. Đình Quân sinh ra Đình Khiết. Đình Hải sinh ra Đình Khúc, Đình Khải. Đình Khiết sinh ra Đình Khưu, Đình Khuông. Đình Năng sinh ra Đình Huệ, Đình Huệ sinh ra Đình Ân, Đình Ân sinh ra Đình Huy, Đình Huân; Đình Huy sinh ra Đình Hùng. Đình Huân sinh ra Đình Liên, Đình Lợi.
   Thứ 3 PHAN ĐÌNH THÍCH sinh ra Đình Vệ, Đình Vinh. Năm Tây Sơn cha con chết cả (phạp). Mộ táng tại Đồng Cân hiện còn.
                                              (Cửa ông Phan Đình Thể có gia phổ chữ Hán)

ÔNG BÀ TỔ THỨ 12
       
       Vị hiệu : Cao tổ khảo tiền Lê triều cai hiệp chức Phan quý công, tự Đình Phương, hiệu đệ nhất thị đôn phác phủ quân.
        Lịch sử: Ngài tên là PHAN ĐÌNH PHƯƠNG, con trai trưởng ông Phan Đình Nhậm. Ngài tính tốt, học giỏi nhưng thi mãi không đậu. Gia tư giàu có lạc quyên cho nhà nước 1330 quan cổ tiền nên vua Lê phong sắc cho cả hai cha con là cai hiệp chức.
Lấy bà Nguyễn Thị Xúc, sinh được một con trai là Phan Đình Lan. Thọ 52 tuổi. Ngày 12 tháng 2 năm Quý Mão - 1663 mệnh chung. Táng tại Đồng Triềng, địa phận làng Tri Lễ, ông bà đồng oanh.
       Lịch sử bà: Bà tên là NGUYỄN THỊ XÚC, thọ 69 tuổi. Ngày 9 tháng 7 Giáp Thìn - 1664 mệnh chung, táng tại Đồng Triềng, đồng oanh với mả ông, hiện còn.
Con trai là Phan Đình Lan (ông tổ thứ 13 của chi trưởng ta bây giờ)

ÔNG BÀ TỔ THỨ 13
    
       Vị hiệu: Cao tổ khảo tiền cai hiệp chức Phan quý công tự Đình Lan hiệu đệ nhất thị chất phác phủ quân.
        Lịch sử: Ngài tên ĐÌNH LAN đời Lê Cảnh Hưng (1740-1786) lên 12 tuổi đã nổi lên hay chữ và viết tốt, thi mãi không đậu. Năm 21 tuổi thừa mệnh cha lạc quyên 1330 quan cổ tiền giúp nhà nước. Vua Lê phong cai hiệp chức cả hai cha con vinh hiển. Năm 25 tuổi lấy bà Lê Thị Thiềng. Đến 27 tuổi sinh ra một con trai Phan Đình Biền. Ngày 16 tháng 5 năm ấy (Mậu Thân - 1728) thọ chung, táng tại Đồng Triềng, Tri Lễ.
       Lịch sử bà: LÊ THỊ THIỀNG sắc đẹp tính nết tự hào, ngày 14 tháng 8 Kỉ Dậu (1729) thọ chung. Thọ 79 tuổi, táng tại Đồng Lốp, Vinh Ân, Đại Đồng, hiện còn. Con trai là Phan Đình Biền.

ÔNG BÀ TỔ THỨ 14
   
     Vị hiệu : Tằng tổ khảo tiền Lê triều nhiêu nam dự văn hội, tê kì lão kiêm hương trung thủ chỉ Phan quý công, đệ nhất lang tự  Đình Biền thị chất  trực phủ quân.
     Lịch sử: Can tên là ĐÌNH BIỀN, mới có thai 3 tháng cha chết, sinh được 10 tháng mẹ chết. Mình đã cô đơn, thời loạn lạc khi quân giặc tới bà cô bồng chạy trốn lên Rú Nhà Hằng gần một ngày trời, nhờ có bà dì Lê Thị Giản tìm bồng về nuôi nấng bảo toàn. Năm 17 tuổi ông lấy bà Lê Thị Ngàn, vẫn cứ tổ nghiệp tại Tràng Học nhưng vì gặp loạn ruộng đất thư khế vẫn còn mà gia tài khí mạnh cháy hết. Năm 17 hiệu Minh Mệnh (1836) Nguyễn triều, di cư sang xóm Hến. Từ đó trai gái trưởng thành làm ăn thịnh vượng. Năm Tự Đức thứ 10 (1857), hai ông bà 70 tuổi con cháu làm lễ hạ thọ rất linh đình, vui vẻ, sinh 4 con trai, 2 con gái. Ngày 6 tháng 6 Đinh Tỵ (1857), bà thọ chung, ông vẫn khang cường ngồi thủ chỉ (cỗ đầu làng) mãi. Đến năm ất Sửu hiệu Tự Đức thứ 18 (1865) gia tài lại bị cháy hết. Ngày 19 tháng 5 năm Ât Sửu ấy thọ chung, táng tại Đồng Hung - Ngọc Hiên, mộ hiện còn.
      Lịch sử bà: LÊ THỊ NGÀN, con gái can Lê Văn Nhã ở giáp Thanh Cao, xã Đại Đồng, mẹ bà là vợ thứ can Văn Nhã, nhà người họ Trần Khắc làng Ngọc Hiên xã Hiến Lạng. Khi bà mới một năm bị loạn thời Tây Sơn, cha chạy trốn ra Bắc Kì mãi không về, mẹ cải giá lấy người họ Nguyễn giáp Tường Phong. Bà theo ở với mẹ năm 17 tuổi lấy can Phan Đình Biền. Ông bà sinh được 4 trai, 2 gái. Ngày 6 tháng 6 hiệu Tự Đức thứ 10 bà thọ chung. Mả táng tại Diếm Đáu, giáp Tường Phong. 4 con trai Phan Đình Biền là:
      1). PHAN ĐÌNH MẬU (cố Trùm Soạn) con đầu, sinh năm Canh Ngọ hiệu Gia Long thứ 9 (1810) lấy bà Phan Thị Hương người làng Tri Lễ, sinh được :
         1.1  - Phan Đình Cảnh (bác Khiếng) va 2 con gái rồi bà chết. Đình Cảnh sinh Đình Lạc (phạp tự.), Đình Bích (phạp)
 Ông lấy bà kế sinh được 4 con trai nữa:
         2.1.-  Phan Đình Mão (ông Nho Dẫu) con là Canh Cởi (phạp).
         3.1.- Phan Đình Mỉa (phạp tự).
         4.1.- Phan Đình Mỡn (ông Trùm Loát) sinh hạ Đình Loát, Đình Yết, Đình Tiếp, Đình Phúc.
       Đình  Loát sinh ra Đình Điệt, Đình Kì.
          *  - Đinh Điệt sinh Đình Cát, Đình Căn, Đình Bá.
                  Đình Cát Sinh Thị Quyên, Thị Quyền, Thị Hà , Đình Hùng ,  Đình Năm.
                  Đình Căn sinh Thị Hào, Thị Huyền, Thị Thắng ,Thị Hoa, Thị Hằng, Đình Chương, Thị Hương, Thị Hường.
                  Đình Bá sinh Đình Hiền, Thị Hòa, Đình Hiếu, Đình Hoàn.
                             Đình Hiền sinh Đình Mạnh . Đinh Hiếu sinh Đình Hùng, Thị Hân, Đình Hưởng
            - Đình Kì Sinh Đình Sĩ, Đình Tuỳ, Đình Đường .
                 Đình Sĩ Sình Đình Long, Đình Lâm, .Đình Liên.
                 Đình Tuỳ sinh Đình Cường, Đình Phong, Đình Cảnh
                 Đình Đường sinh Đình ...
  * Đình Yết sinh Đình Sợi.
            Đình Sợi Sinh Đinh Hoan, Đình Hùng.
              Đình Hoan sinh Đình Huy, Đình..
  * Đình Tiếp sinh ĐìnhThiệp
              Đình Thiệp sinh  Đình Tùng, Đình Thường, Đình Đồng (liệt sĩ), Thị Hà, Thị Mai. Đình Năm. Đình Năm sinhThị Trang, Thị Lành, Thị Thắm, Dình Thiết
 * Đình Phúc sinh Đình Phúc
         Đình Phúc sinh Đình Lộc, Đình Lộc sinh Đình Châu
           5.1.- Phan Đinh Diếp sinh Đình Nhiếp
          Đình Nhiếp sinh Đình Túc ;  Đình Túc  sinh Đình Nghiêm; Đình Nghiêm sinh Đình Phượng.
      2).  PHAN ĐÌNH HỮU. Năm Minh Mệnh thứ 17 ( 1836 )-ất vị vừa 18 tuổi đi lính, lấy con gái họ Nguyễn trong làng tên là Nghi sinh được 1 gái 2 trai rồi chết cả (phạp tự). Giổ bác Bếp  ngày 10 tháng 2.
      3).  PHAN ĐÌNH LỊCH (Ông Hưu ta) sinh ngày 18 tháng 4 năm Bính Tuất (1826) làm cai tổng sắc cửu phẩm văn giai, sinh 4 trai, 5 gái thọ 78 tuổi (lịch sử chép đời 15)
      4)   PHAN ĐÌNH DOÃN sinh nâm Canh Dần Minh Mệnh thứ 11 (1830) lấy bà Lê Thị Hoàn trong làng, sinh được 1 con trai là Phan Đình Dơi (Chú Hài). Đình Dơi sinh 5 con trai là: Đình Hài; Đình Khôi; Đình Nghĩ; ĐìnhVõ;  Đình Thí.
     -  Đình Hài; Đình Khôi cả 2 đi lính được sắc bát  phẩm đều không có con trai.
     -  Đình Nghĩ sinh Đình Tuy, Đình Tương. Đình Tuy sinh Thị Dung, Thị Tuyết, Đình Duyên, Đình Quyền..  Đình Tương sinh Đinh Trường, Đinh .. 
     -   Đình Võ sinh Đình Vị, Đình Khương.  Đình Vị sinh Đình Hùng,  Đình Hải
     -  Đình Thỉ  sinh Đình Thông, Đình Thảo.  Đình Thông  sinh Thị Minh, Đình Tuấn,  Đình Nam,   ĐìnhTâm.     Đinh Thảo sinh Thị Lan, Đình Sơn.
     Con gái Can Biền:
      PHAN THỊ MẠO sinh năm quý dậu, Gia Long thứ 12(1813) lấy ông Lê Văn Dương người làng Phú Thọ xã Phong Sơn sinh ra Lê Dương, Lê Phương,  Lê Cẩn , Thị Kiều
Hiện nay ở xóm Chang, cháu chắt đông, giàu có thịnh vượng . Lê Văn Quý (ông cửu Đoan )  tộc trưởng.
      PHAN THỊ NIÊN tuổi nhâm ngọ - 1822 lấy ông Lê Văn Luyễn trong làng (phạp tự) .
  
ÔNG BÀ TỔ THỨ 15

     Vị hiệu; Hiển tổ khảo tiền hoàng triều bổ thụ chánh tổng , đăng sĩ tá lang khâm mông thưởng thụ tòng cửu phảm văn giai, hồi hưu tê lão trùm, tự  Đình Lịch hiệu đệ  tam thị cung phác phủ quân .
     Nghĩa là: Ông  tổ ta trước vua bổ làm cai tổng, được thưởng sắc cửu phẩm văn giai, về hưu đứng đầu sổ làng tên là Phan Đình Lịch người chất phác phủ quân.
      Ông tên là PHAN ĐÌNH LỊCH (Ông Hưu) con thứ 3 can Phan Đình Biền sinh ngày 18 tháng 4 năm Bính Tuất (1826) - Minh Mệnh thứ 7, ông làm chánh quản làng Ngọc Hiên, xã Hiến Lãng, tổng Đại Đồng, huyện Thanh Chương. Trước làm nhà ở xóm Hến, lấy con gái họ Trần trong làng tên là Trần Thị Duyễn  rồi dời nhà lên xóm Trửa (xóm Trôi) , nhà giàu, con đông, dân xã bầu làm lý trưởng, làm phó tổng rồi cai tổng . Đời Tự  Đức làm 18 năm, được sắc phong cửu phẩm hồi hưu. Ông bà sinh hạ được 4 con trai, 5 con gái. Nuôi thầy cho con học. Sau tạu nương sang xóm Quan cho con ở. Năm Thành Thái - ất Vị (1895) bà chết . Ông ở với con 78 tuổi đến giờ Sửu ngày 21 tháng 11 năm quý mạo (1903) thọ chung, mộ cải táng vào cồn Quế Viên trên khe Nước địa phận làng Tri Lệ.
    
        Vị hiệu bà:  Hiển tổ tỷ tiền hoàng triều bổ thụ chánh tổng, đăng sĩ tá lang khâm mông thưởng thụ tòng cửu phẩm văn giai, hồi hưu tê lão trùm, Phan chính thất Trần thị hạng nhất hiệu từ nhân nhũ nhân.
        Lịch sử  : Bà tên TRẦN THỊ DUYỄN con đầu lòng c Trân Văn                ở xóm Hến, em trai bà là ông Trần Văn Duỵệt.  Ngày 22 tháng1 ất vị (1895) thọ chung. Thọ 69 tuổi.  Mộ táng trong rãy củi ông Phan Văn Hỷ dưới chân  núi Chìa Phan mé bàu Vãy, Tri Lệ . Mộ xây ngày 23 tháng 3 năm canh thìn ( tức ngày 24 tháng 4 năm 2000) Bia đá khắc “Phan Đình tộc, tằng tổ tỷ tiên linh”,  bia xi măng đúc “ Mộ cố Hưu bà”, nay mộ trong vườn ông Mậu phía trước nhà, xóm 12 xã Thanh Hưng, huyện Thanh Chương, Nghệ An.
 Ông bà sinh hạ 4 trai , 5 gái:
       Con trưởng  ông Hưu : PHAN ĐÌNH CÔN ( Đội Trang) tài kiêm văn võ, chữ tốt, học hay thi văn không đậu lại thi võ.18 tuổi đi lính đóng suất đội. Ông lấy bà Lê Thị Hờm con gái cố Thông Huyện trong làng. Sinh con trai là Đình Cương, con gái là Thị Chung, Thị Dung bị chết sớm . Hồi Pháp đánh thành Huế ông theo ĐảngVăn Thân đánh Pháp, sau đó bị bệnh về nhà chết ngày 27 tháng 10 thọ 35 tuổi , mộ táng tại Rú Hến gần mé trót Cơn Tran, Phạp tự. Quyển gia phổ chữ Hán do ông viết.
        Con thứ 2 ông Hưu :     PHAN ĐÌNH HOÀNH ( Ông Cu Việt ) tuổi quý hợi - 1863 lấy bà Nguyễn Thị Xước con gái cố Trùm Xưng họ Nguyễn Tài, giáp Thượng Thọ, Đại Đồng . Sinh 3 con trai: Đình Việt, Đình Yên, Đình Quan, 3 con gái Hoe Nậy, Hoe Con, Hoe Tíu. Ông thọ 72 tuổi, bà thọ 69 tuổi. Phạp tự.
    Đình Việt sinh hai con gái: Thị Nhiễu ả, Thị Nhiệu Em. Thị Nhiễu ả lấy Lê Văn Đồng cháu ông ngoại ta. Nhiễu Em lấy Lê Văn Ngô xóm Quan Cả. Đình Việt chết ở Tạ Sỏi, Phủ Quỳ.
        Con thứ 3 ông Hưu : Tên huý là PHAN ĐÌNH TRỢU, tên chữ Đình Trác (Ông Hàn) (Ông Phan Đình Trạc viết nên xưng hô bằng cha. sẽ viết ở ông tổ đời 16)
     Con thư 4 ông Hưu: PHAN ĐÌNH TIỆU
         Vị hiệu:  Tằng tổ khảo Phan quý công huý Đinh Tiệu thuỵ chất phác phủ quân
        Lịch sử:  Ông tên là Phan Đinh Tiệu con trai thứ tư can Phan Đình Lịch (Can Hưu), sinh năm tân vị- 1871 mất năn 1912  hưởng dương 42 tuổi.
               Bà tên là Nguyễn Thị Hạnh con ông Trùm Đản xóm Vinh Ân, Đại Đồng, Thanh Chương, Nghệ An. Ông bà sinh được một trai và một con gái. Con trai là Phan Đình Khuyến. Con gái là Phan Thị Xuân tuổi Tân Sửu-1901sinh đươc 1 trai và 1 gái
        Vị hiêu:  Hiển tổ khảo Phan mạnh công huý Đình Khuyến niên đăng thọ vực thuỵ chát phác phủ quân.
         Lịch sử:  Ông tên là Phan Đình Khuyến (thường gọi ông Trợ) con ông Phan Đình Tiệu. Ông  sinh năm nhâm thìn -  1892, tính tình hiền lành chất phác, cần cù siêng năng, chịu khó. Ông Phan Đình Huề (Ông Nữu) lên Lãng Thạch  (nay Thạch Sơn), Anh Sơn dạy học đã đưa gia đinh ông Khuyến lên ở  trong vườn để làm ăn sinh sông cho đến khi ông khuyến có vườn riêng. Ông mất ngày 7 thang 7 năm kỷ sửu (1-8-1959), giổ ngày 6 tháng 7 hàng năm, thọ 68 tuổi.
         Vị hiêu bà: Hiển tổ tỷ Phan Chính thất Trần Thị Thuộc  hiệu từ thiện nhụ nhân.
        Lịch sử:   Bà tên là Trần Thị Thuộc con gái ông Đồ Hoàn làng Tri Lệ xã Hiên Lãng (nay là xã Thanh Hưng, Thanh chương, Nghệ An, bà hiền lành thật thà chất phác cân kiệm. Bà mất ngày 12-8-  âm lịch năm
     Ông bà sinh con trai là Phan Đinh Huân ông tổ đời 18
        Vị hiệu:  Hiển khảo tiền tòng nông nghiệp, ủy viên thường vụ đảng ủy, phó chủ tịch ủy ban nhân xã, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, hội viên hội người cao tuổi, hưởng thọ thất thập tứ niên Phan mạnh công húy Đình Huân thị trung trực chi linh.
       Lịch sử ông:  Ông tên là Phan Đình Huân sinh năn 1933 (tuổi khai lý lịch) con trai ông Phan Đình Khuyến (ông Trợ).Tốt nghiệp trung cấp quản lý kinh tế. ủy viên ban chấp hành huyện đoàn Anh Sơn, Bí thư đoàn xã Thạch sơn, thường vụ đảng ủy xã, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, phó chủ tịch xã, nghỉ hưu xã. Ông mất ngày 1- 5 –Bính Tuất (27-5-2006), hưởng tho 74 tuổi.Ông lấy bà Võ Thị Lục người xã Đức Sơn, Anh Sơn, Ông bà sinh Phan Thị Hằng, chồng là Lương Văn Sơn con ông Lương Văn Lân quê Nam định, Hằng sinh con là Thị Tâm,Văn…; Phan Thị Nga chồng Nga là Ngô Đức Hùng con ông Ngô Đức Thuận người xã Hưng Long, Hưng Nguyên di dân vào huyện EKa- Đắc Lắc sinh con là Thị Tuyết, Văn Tiến; Phan Đình Mỹ. Mỹ lấy vợ la Hồ Thị Mai con ông Hồ Hữu Phước đi đạo thiên chúa giáo, người xã Thạch Sơn, Anh Sơn.. Mỹ sinh Phan Đình Hùng, Phan Đình Huy.
  Con gái Ông Tiệu là Phan Thị Xuấn sinh năm Tân Sửu – 1902 lấy ông Lê Văn Mưỡi sinh đươc 1 trai, 1 gái; Lê Văn Tuât, Thị Mưỡi.
 Tuất lấy vợ là Đặng Thị Nhu sinh con : Lê Văn Hoan, Hoan lấy vợ Nguyễn Thị Năm sinh Thị Giang, Thị Ly, Văn Lộc, và Văn Lan; Lê Văn Tiến lấy vợ Nguyễn Thị Hoa sinh Thị Vân vàVăn Đạt; Lê Văn Phát lấy vợ Nguyễn Thị Hai sinh con Thị Hồng, Thị Huệ, và Văn Tài: Gia đình con cháu ông Tuất đều sinh sông ở xã Thanh Hưng, Thanh Chương.
  Lê Thị Mưỡi lấy chồng Huỳnh Liên quê Mộ Đức, Đức Phổ, Quảng Ngãi sinh con Huỳnh Phương, vợ Phương là…sinh con là Nguyễn Trọng Nghĩa (mang họ chồng trước).Huỳnh Thị Vân (con gái Mưỡi) lấy chồng Nguyễn Ngọc Vân sinh con là Nguyễn Hoàng Nam và Hoàng Triều, sinh sống ở Quảng Ngãi

  Con gái ông Hưu:
-         Bà Kiều lấy về làng Phú Thọ,Thanh Chương - Phạp tự. Có cháu ngoại là ông Đồ Thởi xóm Mới, Phú Thọ xã Thanh Phong, Thanh Chương thờ tự ông bà.
-         Bà Mỹ lấy ông Thông Huyện làng Ngọc Hiên, xóm Quan sinh 3 trai 1 gái chỉ có ông Lê Văn Toàn nay 62 tuổi sinh 1 con gái rồi cũng phạp tự.
-         Bà Đồ Liên lấy về làng Tri Lệ sinh Phan Văn Xớn, Xớn sinh Văn Chước, Văn Thước, Văn Tư. Cháu chắt nay đã đông.
-         Bà Đồ Em lấy mọn ông Đồ Liên (chồng chị) sinh được Phan Văn Luyến, Văn Luyến sinh 3 con gái ( con cháu đông, trong đó có con gái Thị Mười lấy ông Lê Văn Đệ –Tiến Sĩ , nhà giáo ưu tú, hiệu trưởng trường cao đẳng sư phạm Nghệ An), một con trai là Phan Văn Mậu phạp tự.
-         Bà Quế lấy về làng Thọ Sơn,Thanh Hưng,Thanh Chương sinh 4 trai, 1 gái , chỉ có Trần Văn Tự sinh 2 con trai.
          
ÔNG BÀ TỔ THỨ 16

         Vị hiệu: Hiển khảo tiền canh tý khoa tú tài sắc thụ hàn lâm đại chiếu, tê hương kỳ lão Phan quý công tự Bạt Tuỵ  thuỵ thuần cẩn  hiệu Lập Trai tiên sinh .
         Nghĩa là : Cha trước đậu tú tài khoa canh tý vua phong sắc hàn lâm đại chiếu, lên bàn lão 60 ở làng,  họ Phan tên chữ bóng Bạt Tuỵ ( Trác ) hàm ơn  là thuần cẩn, hiệu Lập Trai tiên sinh.
       Lịch sử: Cha con trai thứ 3 ông Hưu, tên huý PHAN ĐÌNH TRỢU, tên chữ ĐÌNH TRÁC( thường gọi ông Hàn) sinh ngày 30 tháng 6 ất sửu, Tự Đức năm 18 – 1865 quán tại Ngọc Hiên, Hiến Lạng, Đại Đồng, Thanh Chương. tính cách đơn giản thật thà nhất sinh theo việc học, thờ mẹ cha hiếu thảo, nuôi nấng con nhân từ, đối với anh em thì hữu ái, xử với bạn bầu thì trung thành. Xử với họ hàng làng nước thì rất hoà mục, nên ai cũng yêu, ai cũng trọng đến 36 tuổi thi đậu tú tài khoa canh tý - (1900), 59 tuổi được sắc hàn lâm , chiếu lệ các tú tài tuổi hơn 40 được sắc.
        Sau khi thi đậu chỉ làm nghề dạy học nuôi con học hành. Lấy mẹ là con gái ông Lê Văn Quyển ở trong làng sinh được 4 con trai, 2 gái đến thành gia, thành thất, con cháu đông. Thọ 61 tuổi giờ tuất ngày 2 tháng 11 Ất Sửu ( Khải Định thập niên - 1925 thì chết). Giổ ngày mồng 1 tháng 11 hàng năm. Táng tại Rú Hến, đến giờ Dậu ngày 21 tháng 8 (Dậu) năm Quý Dậu (1933) (Giờ Dậu, ngày Dậu, tháng Dậu, năm Quý Dậu) lại cải táng tại nương ông Phan Tuấn Mơi, dưới chân rú Cồn Nhôn trước cửa đền quan Huấn Hoà Đa về trên mạch bàu Côi Tri Lễ, toạ cấn hướng khôn phân kim Tân Sửu, Tân Vỵ, thầy địa lí quan hàn Ngô Trí Bình coi cho. Mộ đã xây ngày 24 -11- ất hợi (14-1-1996) ghi : Ông Hàn Phan 1865 - 1925 tại chỗ cũ nay thuộc đội 12 xã Thanh Hưng.
   Lịch sử bà :
      Vị hiệu: Hiển tỷ tiền canh tý khoa tú tái sắc thụ hàn lâm viện đại chiếu Phan chính thất Lê Thị hàng nhất, hiệu từ thiện phu nhân .
       Lịch sử; Tên mẹ là LÊ THỊ HUYẾN sinh năm giáp tuất - 1874-Tự Đức 28 Con ông Lê Văn Quyển và bà Phan Thị           con cố Cai Bường Tri Lệ có em trai Lê Văn Khuyến tức là cha Lê Văn Khuyến ( Lượng), Lê Văn Nhân, Lê Văn Đồng . Khi lên 5 tuổi thì bị mẹ chết, cha ra Bắc Ninh dạy học không về , chị em cố Cai Bường (ông ngoại) nuôi . Đến 20 tuổi lấy chồng, cha mới về thăm lần đầu. Chị em trưởng thành là nhờ bà ngoại, tính hạnh thật thà, thành kính đơm cúng tổ tiên, chết tối ngày 3 tháng giêng, quý mạo - 1963 (27-1-1963) táng trong vườn ở sau đó cải táng về rú gần nhà thờ đại tôn và đã xây mộ ngày 14-1-1996 trên mộ ghi bà Hàn Phan 1874-1963 nay thuộc đội 6 xã Thanh Hưng,Thanh Chương. Giổ vào ngày 4 tháng giêng hàng năm. Sinh hạ 4 trai 2 gái thành gia thất:
     
     1.3: PHAN ĐÌNH TRẠC con ông Phan Đình Trác thường gọi Phan Bá Dinh sinh ngày 29 tháng 6 ất vị- Thành Thái  - 1895 tại Ngọc Hiên, Hiến Lạng,  Đại Đồng, Thanh  Chương. Nghệ An. Mất ngày 19-12- Bính ngọ ( 29-1-1967),`thọ 73 tuổi. Mộ cải táng tại Rú Nhôn , Tri Lệ nay xã Thanh Hưng, Thanh Chương. xây ngày 21-11-ất hợi (14-1-1996), bia mộ ghi : Phan Đình Trạc (gần nghĩa trang họ Trần). Kế nghiệp cha làm nghề dạy học, 1933 dạy tại Hiến Lạng, 1936-1940 dạy tại Thượng Thọ, Đại Điền nay là  xã Vĩnh Sơn, Anh Sơn, Nghệ An, 1941-1945 dạy tại Yên Lĩnh nay là xã Lĩnh Sơn, Anh Sơn, Nghệ An, Tháng 8 -1945 cách  mạng thành công làm uỷ viên tư pháp xã Hiến Lạng, 1946- 1947 uỷ viên mặt trận Viêt minh huyện Thanh Chương, 1948 dạy tại Hiếu Thiện nay là  xã Xuân Sơn, Huyện Đô Lương, Nghệ An. Tuổi già về phụng dưỡng mẹ tại Ngọc Hiên.
   Ông lấy bà Mai Thị Bảo sinh ngày 5-12- Canh Tý (24-1-1901) con ông tú tài hàn lâm Mai Văn Hân làng Phong Thịnh nay là xã Phong Thịnh, Thanh Chương, Nghệ An và bà Phan Thị Tài  con ông Cai tổng Ngươn xã Kim Bảng cũ, Thanh Chương . Bà Bảo lấy chồng vẫn ở quê cha Phong Thịnh để chăm sóc cha mẹ đẻ không có con trai, về già ở với con cái tại Hà nội.  Mất ngày 20 tháng 6 ất sửu (6-8-1985), phần mộ tại nghĩa trang Yên Kỳ, Hà Nội. Ông bà sinh hạ: 2 trai 3 gái:
    1.1.3) Phan Thị Nhỏ sinh ngày 16-11-Nhâm tuất (12-1-1923)- Khải Định thứ 7. Chồng là Võ Văn Tợ làng Phong Thịnh dạy học nghỉ hưu ở với con tại phường Hưng Bình, thành phố Vinh . Bà Nhỏ sinh con là :
                 Võ Văn Lan, Lan thương binh chống Mỹ, vợ Lan là Tài cán bộ bảo tàng Nghệ An nghỉ hưu sinh 4 con gái là : Mai Phương, Thu Hiền, Kim Anh, Hải Yến nhà Lan ở phường Hưng Bình thành phố Vinh.
                 Võ Thị Quế Y sĩ sở y tế Nghệ An, Chồng là bác sí Châu cán bộ sở y tế Nghệ An. Con gái là Quỳnh Phương.nhà ở Vinh
                 Võ Thị Quỳ chồng là Nguyễn Quang Khang con là Thanh Vân, Anh Tuấn,  Anh Ninh . định cư 3/6 đường 30/4 thành phố Cần Thơ.
                  Võ Thị Huệ chồng là Vị bác sĩ bệnh viện huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, con là Cẩm Tú, Thu Lan, Xuân Thắng nhà ở Công ty Nam , xí nghiệp 2 Bỉm Sơn , Thanh Hoá
                  Võ Văn Lý Công an Vinh, vợ là Xuân con là Võ Anh Tuấn, Thị Quỳnh Trang nhà ở Vinh.
                   Võ Thị Phượng chồng là Chinh con là Vinh nhà 352  đường cách mạng tháng 8—Cần Thơ.
     2.1.3) Phan Đình Thụ  sinh ngày 19-3-Bính dần (30-4-1926) vì đi học sớm nên khai chính thức trong mọi giấy tờ ngày 2-2-1926, tốt nghiệp đại học sử,  chuyên gia Ghi nê, chuyên viên bộ giáo dục, vợ là Võ Thị Niêm sinh 15-4 Quý dậu (9-5-1933) con ông đội Thiêm chòm Phong Thịnh.  Ông Thụ sinh 1 trai 3 gái:
             -  Phan Thị Châu lấy chồng nhà ở Hà Nội
             -  Phan Thị Hà chồng quê Phong Thịnh nhà ở Hà Nội
             -  Phan Nhật Quang vợ người Hà Nội sinh con gái,  cả nhà đang sinh sống ở nước Đức
             -  Phan Thị Giang chồng là Binh bác sĩ nhà ở Hà Nội
  3.1.3)  Phan Đình Kỷ sinh ngày 14-1-Tân vị- (2-3-1930) , Đại tá, Phó giao sư tiến sĩ bác sĩ bệnh viên quân đội 108 vợ là Thị Thu bác sĩ, 2 con gái là Thị Hương, Thị Trà
   4.1.3) Phan Thị Tao sinh ngày 24-9-Giáp Tuất (31-10-1934) giáo viên cấp 1, chồng là Nguyễn Thế Hai quê xã Thanh Hưng , Thanh Chương  giáo viên cấp 3, cán bộ sở giáo dục thành phố Hồ  Chí Minh  sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh
   5.1.3)  Phan Thị Phương Thảo sinh ngày 9-9- Tân Tỵ ( 28-10-1941), trưởng phòng tổ chức cán bộ sở tài chính Hà Nội chồng là Phạm Văn Cường quê ở huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh  chuyên viên  bộ giáo dục, nhà đường Huỳnh Thúc Kháng ngõ 16 nhà 19 khu Láng Trung- Hà Nội, 2 con gái là : Phạm Thị Quỳnh Phương sinh năm 1972 chồng là Lê Tùng sinh năm 1971 con là Lê Phạm Duy sinh năm 2000 , Lê Phạm Long sinh năm 2002 sinh sống ở Hà Nội; Phạm Thị Mai Phương sinh năm 1974 chồng là Nguyễn Hồng Kiên con là Nguyễn Tường Huy sinh năm 2001 nhà B8 ngõ 194 đường Giải Phóng - Hà Nội.
     
        2.3:  PHAN ĐÌNH HUỀ (thường gọi ông Nữu sẽ viết ở đời 17)

  3.3: PHAN THỊ CÁC con thứ 3 ông Phan Đình Trác, tuổi Nhâm Dần (1902) lấy ông Hà Duy Trí xã Mĩ Sơn, tổng Thổ Hào nay là xã Thanh Tùng, Thanh Chương mất ngày 3 tháng 10 Quý Hợi (ngày 7-11-1983). Ông Trí mất ngày 9 tháng 5 Bính Thìn (6-6-1976), giỗ 9-5. Ông bà sinh ra 3 trai:
         -   Hà Duy Hoà giáo viên cấp 2 về hưu, Hoà Sinh ra Thị Hảo- đại học dược chồng là Nguyễn Trọng Bá quê Hà Tĩnh chuyên viên nhà xuất bản giáo dục nhà ở 42 Gia Ngư Hà Nội; Hà Duy Hào thương binh sinh sống tại quê Thanh Tùng Thanh Chương; Thị Lý sinh sống tại Hà Nội ; Thị Hồng kế toán giáo dục Anh Sơn chồng là Trường cán bộ ngân hàng Anh Sơn nhà ở Vinh; Thị Hùng giáo viên mầm non Anh Sơn, chồng là Tuyết sĩ quan quân đội nhà thị trấn Anh Sơn; Thị Hường chồng là Trang sinh sống xã Long Sơn Anh Sơn
        -    Hà Duy Gia sinh sống tại Thanh Tùng, mất  1994 vợ cả Nguyễn Thị Em sinh con Duy Bé nhà ở thị trấn Thanh Chương, vợ kế Phạm Thị Huệ sinh con là Duy Thi, Thị Oanh, Thị Tuyết, Thị Sương
         -    Hà Duy Lư tốt nghiệp đại học toán, nghiên cứu sinh ở Ba Lan, giáo viên trường trung cấp địa chất vợ là Phương người Thanh Hoá cán bộ trường trung cấp địa chất sinh con là Thị Thuỷ chồng là Nam bác sĩ;  Hà Duy Long vợ là Thuý; Hà Duy Hưng đang du học ở Pháp bảo vệ luận án tiến sĩ. Cha con ông Lư đều sinh sống ở Hà Nội .
      
      4.3 .PHAN THỊ EM con thứ 4 ông Phan Đình Trác, tuổi ất Tỵ -  1905 mất ngày 23-3 Đinh Dậu (22-4-1957) lấy ông Nguyễn Nguyên Đàn xã Liên Sơn Đô Lương Nghệ An, làm nghề trắc địa về hưu mất ngày 4-9 ất Mạo (8-10-1975) giỗ 3-9 âm lịch ông bà sinh hạ được:
             -  Nguyễn Thị Vinh chồng là Trương Văn Lượng huyện Bình Sơn Quảng Ngãi vợ chồng là cán bộ nông trường 1-5 Nghĩa Đàn nghỉ hưu sinh được : Thị Trà, Trương Văn Thanh, Thị Bình, Văn Tiến, Văn Liệu ( Liệu con riêng bà Vinh, cha Liệu là ông Lê Văn Lí Thanh Hưng Thanh Chương) bà Vinh mất 18h ngày 10-4 Giáp Thân (28-5-2004). Con cháu bà Vinh sinh sống tại thị trấn Nghĩa Đàn.
           -  Nguyễn Nguyên Nhung sinh 1935 kĩ sư địa chất đoàn trưởng đoàn địa chất Nghệ An vợ là Thái Thị Huân sinh các con : Nguyễn Thị Tâm chồng là Hồ Quốc Hùng, Tâm sinh con Viết Thăng, Thị Thuỷ nhà ở gần ga Hàng Cỏ Hà Nội; Nguyễn Thị Mai chồng là Vinh quê Hương Sơn, Hà Tĩnh có con là Huy và Hoàng . Vợ thứ 2 của Nhung là Nguyễn Thị Hà quê Lục Nam tỉnh Nam Hà cán bộ địa chất sinh con là Nguyễn Thị Khanh, Nguyễn Nguyên Tùng
           -  Nguyễn Thị Hạnh chồng là Nguyễn Đình Thi quê xãVăn Sơn, Đô Lương vợ chồng công nhân lâm trường Đô Lương sinh con là Thị Lê,Thị Hà, Thị Dung, Thị Lương, Đình Long.
    
        5.3.- PHAN TRỌNG ĐỐNG con thứ 5 ông Phan Đình Trác sinh ngày 10-1- Kỷ dậu (1909) tại xã Ngọc Hiên, Đại Đồng ,Thanh Chương. Anh ruột của ông là ông Phan Đình Huề lên  dạy ở Yên Phúc, Anh Sơn đã đưa ông lên Anh Sơn đi học. Ông đậu tiểu học (Prime), học trường quốc học Huế làm thư ký hoả xa, mở trường dạy học ở Huế, sau cách mạng tháng 8 trưởng ty lao động tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh, trưởng phòng pháp chế bộ lao động nghỉ hưu, đảng viên đảng cộng sản Việt Nam. Mất 17 giờ ngày 28-3-1981 (23-2-Tân dậu) tại bệnh viện Việt Xô Hà Nội , táng 14 ngày 30-3-1981 tại Hà Nội. Vợ là bà  Nguyễn Thị Tích con ông Nguyễn Cảnh Thiếp xã Đan Nhiệm, Nam Đàn, Nghệ An hiện ngay hơn trăm tuổi nghỉ hưu ở với con là Đình Đồng ở Hà Nội. Ông bà sinh con trai Phan Mạnh Đồng phi công học tại Liên Xô, sĩ quan quân đội nghỉ hưu, Vợ là Trương Thị Mười con ông Trương Văn Hệ xã Hội Sơn, Anh Sơn, Nghệ An cán bộ cục lưu trử trung ương nghỉ hưu, Phan Mạnh Đồng sinh con là :
-         Đình Minh kỹ sư vợ là Nguyễn Thị Quỳnh Anh con ông Nguyễn Đình Lãn xã Vĩnh Sơn, Anh Sơn, Nghệ An, Minh sinh con trai là Hoàng Nam, con gái là Minh Anh nhà 509-C14-Thanh Xuân Bắc, Đống Đa, Hà Nội.
-          Phan Thị Thuỷ chồng là                con là Đào Nhật Tuấn. Sinh sống ở Hà Nội
-          Phan Thị Hồng Anh chồng là                sinh con Nguyễn Hồng My  ở Hà Nội.
   
      6.3.- PHAN THÚC TÀI con thứ ông Phan Đình Trác  sinh 30-6- Nhâm Tý (1911) tại xã Ngọc Hiên, Đại Đồng, Thanh Chương. Anh ruột của ông là ông Phan Đình Huề lên dạy Yên Phúc, Anh Sơn đã đưa ông Tài lên Anh Sơn đi học. Năm 1937 ông đỗ tiểu học, 1939 vào dạy học ở Huế, 1940 vào dạy học ở xã Nghĩa Hiệp, huyện Tư Nghĩa, tinh Quảng Ngãi lấy bà Tạ Thị Ky con ông Tạ Hoà xã Nghĩa Hiệp sinh sống ở đó. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc công tác tại khu giáo dục miền  Nam tại Hà Nội rồi đi học trường đại học chính trị, ra dạy trường học sinh miền Nam, giáo viên trường Bổ túc công nông trung ương, rồi Hiệu trưởng trường câp 3 công nghiệp Hoàn Kiếm, Hà Nội rồi hiệu trường cấp 3 Đông Anh Hà Nội, nghỉ hưu năm 1978. Sau ngày giải phóng miền Nam bà Ky ra Hà Nội,  ông bà sinh sống tại khu tập thể trường cấp 3 Chu Văn An, Hà Nội. Đến năm 1990 ông bà về thành phố Gia Lai với con trai Đình Thọ. Ông mất ngày 31-8 -2001 (13-7-Tân Tỵ) lúc 6 giờ 30 phút, hưởng thọ 91 tuổi. Bà sinh mậu thìn (1928) mất ngày 11- 2 - Kỷ sửu (12-3-2009) tại Gia Lai. Hưởng thọ 82 tuổi. Mộ ông bà đã xây tại Pleicu. Ông bà sinh hạ 2 gái ,1 trai:
-         Phan Thị Lan cán bộ y tế nghỉ hưu, chồng là Đinh Mimh Chánh giám đốc sở y tế tỉnh Gia Lai con là Thị Quỳnh, Đinh Minh Quang sinh sống ở Gia Lai.
-          Phan Thị Xuân Mai chồng Phạm Văn Công  con là Thị Oanh,,Thị Hồng Anh, Phạm Phi Hùng sinh sống ở thôn Đồng Viên xã Nghĩa Hiệp, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi.
-   Phan Đình Thọ sinh năm 1955 bác sĩ giáo viên trường trung cấp y tế Gia lai, nay bác sĩ bệnh viện đa khoa tỉnh Đắc Lắc,vợ cả là Thị Yến sinh 3 con gái là Thị Quyên, Thị Thu, Thị Thanh, vợ 2 là Thái Thị Lân con ông Thái Duy Tân ở chòm 1 xã Tăng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, Bà Lân cán bộ thuỷ lợi Đắc Lắc sinh con trai là Phan Đình Huy, cha con nhà ở thành phố Ban Mê Thuật

ÔNG BÀ TỔ THỨ 17
                                            (ông Phan Đình Đệ viết)

          Vị hiệu:  Hiển khảo tiền bản xã, tòng học nghiệp vi giáo sư kiêm bí thư chi bộ dân chủ đảng niên đăng thọ vực Phan Đình Huề thị thuần cẩn đạt phủ quân chi linh .
    Nghĩa là ; Cha trước theo nghề học, làm giáo viên  kiêm bí thư chi bộ Đảng Dân chủ .
        Lịch sử:  Ông tên là PHAN ĐÌNH HUỀ thường gọi thầy giáo Nữu con thứ 2 ông Phan Đình Trác, sinh  giờ thìn ngày 27-7 -1899 (20-6-Kỷ hợi, Thành Thái thứ 11) tại làng Ngọc Hiên, xã Hiến Lãng, Tổng Đại Đồng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông mất lúc 6 giờ ngày 17- 4 - Đinh mùi (25-5-1967) an táng lúc 14 giờ ngày 17- 4 - Đinh mùi, cải táng tại nghiã trang họ Bùi Xuân, mộ xây ngày 27 - 1-2000 (21-12-Kỷ mạo), mộ chí ghi : ông giáo Phan Ngọc Hiên. Giổ ngày 16 tháng 4 hàng năm . Cha con thứ 2 ông Phan Đình Trác (ông Hàn Trác). Cha theo học chữ Hán không được dự thi vì vào thời chính phủ Nam triều bỏ thi Hán học, rồi học quốc ngữ, Pháp văn. Khoảng 16-17 tuổi lên làng Yên phúc nay là xã Phúc Sơn, Anh Sơn dạy học trong nhà ông Hàn Mật cử nhân học trò theo học rất đông. Sau đó chính phủ Nam triều bổ dụng dạy hương trường ở các xã Lãng Thạch, Dương Xuân (nay Lĩnh Sơn) Anh Sơn cho đến tháng 8-1945.Tháng 10-1945 dự lớp huấn luyện sư phạm do phủ Anh Sơn tổ chức rồi dạy trường  tiểu học xã Anh Dũng (Phúc-Long Thạch) huyện Anh Sơn cho đến năm 1949 sức yếu thì nghỉ, sau cách mạng cha còn tham gia các công tác ở địa phương như dạy bình dân học vụ, công tác tuyên truyền, bí thư chi bộ Đảng Dân chủ, uỷ viên ban chấp hành mặt trận Liên Việt xã Kim Long (Phúc, Long, Thạch, Vĩnh, Khai). Ngoài việc dạy học cha còn làm thêm nghề may máy, may đồ quân nhu, cha hay làm thơ, câu đối, viết quyển sách toán pháp đại thành năm 1922 để dạy tiểu học. Tính tình hiền lành, đức độ, khiêm tốn, thực thà được mọi người yêu mến kính trọng, thương yêu vợ con cháu chắt, anh em ruột thịt. Ông bà Đồ Bột mất cha đã đưa ông Phan Đình Hồng  mới tám tuổi về Thạch Sơn nuôi dưỡng cho ăn học đến tuổi trưởng thành, cưới vợ làm nhà cho ở riêng thành gia thất. Cha cũng  đưa ông Phan Đình Khuyến (Ông Trợ) lên Lãng Thạch anh em cùng làm ăn sinh sống cho ông Trợ làm nhà trong vườn mình cho đến luc ông Trợ có vườn riêng. Cha cũng đã đưa chú Đống, Chú Tài lên Yên Phúc ăn học .
     Bà.- Vị hiệu: Hiển tỷ tiền Việt Nam quốc tịch công dân, hội viên hội phụ nữ cứu quốc, thăng bí thư tổng hội, lịch thụ bí thư hội trưởng lão mẫu binh sĩ, hội viên bảo thọ Phan công chinh thất Bùi Xuân Thị huý Sưu hiệu từ thiện nhũ nhân.
      Nghĩa là: Mẹ quốc tịch Việt Nam hội viên hội phụ nữ cứu quốc, bí thư tổng hội, hội trưởng hội mẹ chiến sĩ, hội viên hội bảo thọ, vợ chính của ông họ Phan, người họ Bùi Xuân người phụ nữ từ hiền lành.
     Lịch sử: Mẹ là BÙI THỊ SƯU tên thường gọi bà giáo Nữu sinh giờ tuất ngày 21-3- Giáp thìn (6-5-1904). Quê quán tại làng Thanh Lãng, xã Lãng Thạch nay là xã Thạch Sơn, Anh Sơn, Nghệ An. Con thứ 2 cụ phó tổng Đặng Sơn Bùi Xuân Trân - liệt sĩ 1930. Em ruột của cậu Bùi Xuân Thuần lý trưởng xã Lãng Thạch có 2 con là cán bộ tiền khởi nghĩa là Bùi Xuân Vinh (Xán), Bùi Xuân Toàn, có con gái Bùi Thị Ât cán bộ uỷ viên cách mạng lâm thời xã Lãng Thạch. Chị ruột của các cậu là Bùi Xuân Châu đi lính thời Pháp thuộc mang lon suất đội, sau cách mạng chấp hành thanh niên cứu quốc Nghệ An; Cậu Bùi Xuân Tuân cán bộ lão thàng cách mạng bị Pháp bắt tù Ban mê thuật sau cách mạng sĩ quan công an;  Cậu Bùi Xuân Ân cán bộ ty thuỷ lợi, cậu Bùi Xuân Tơn đồn trưởng công an Hưng Nguyên thời 1945-46; Dì Bùi Thị ái (dì Huỳnh) cán bộ ngân hàng nghỉ hưu. Mẹ làm nông nghiệp có buôn bán theo thời vụ, học hành tuy  ít nhưng hiểu biết lịch thiệp nhiều, giao du đối đáp trò chuyện được với mọi tầng lớp, tính tình cương trực, đức độ có lòng nhân ái nên ai cũng quý mến kính trọng. Mẹ  có tham gia các phong trào xã hội như thời kỳ 1930-1931 tham gia biểu tinh, rải truyền đơn, sau cách mậng làm hội trưởng mẹ chiến sĩ xã Anh dũng, Kim Long, làm bí thư phụ nữ tổng Đặng Thượng, công tác nuôi quân, hộ lương, kiến thiết nông thôn đường sá cầu cống, trường học. Được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Pháp hạng nhất và nhiều giấy khen, bằng khen của huyện, tinh, trung ương. Mất lúc 18 giờ 22 phút ngày 21-8-1986  (16-7-Bính dần) giổ ngày 15-7 hàng năm, an táng ngày 17-7-Bính dần tại  Rú Trọt Chai mộ chưa cải táng, mộ xây ngày 27-1-2000 mộ chí ghi bà giáo Nữu họ Bùi Xuân
     Cha mẹ rất mực thương yêu con cái nuôi con cho ăn học đến nơi đến chốn trưởng thành đều có gia thất. Gồm có các con cháu chắt sau đây:
            Thứ 1- Anh PHAN ĐÌNH PHÊ mất lúc còn nhỏ thời kỳ 1930-1931 khoảng 7 tuổi. Mộ cải táng tại nghĩa trang họ Bùi Xuân mộ chí ghi nam vong họ Phan Đình 
           Th 2.- Chị PHAN THỊ NỮU sinh giờ dần ngày14-9-1925 (27-7-ất sửu) thường gọi bà Lý tốt nghiệp học yếu lược đầu tiên của xã Lãng Thạch. Chị xây dựng gia đình với anh Lê Văn Lý con ông Lê Văn Thành thường goi lă ông huyện Tường một nhà giàu có ở Xã Thanh Hưng, Thanh Chương dưới thời Pháp thuộc trong nhưng năm mất mùa đói kém thường đem lúa nhà mình phát chẩn cho người nghèo đói. Chị là một người người hiền lành chất phác, thương người, có đạo đức. Anh chị sinh 3 trai 4 gái :
        - Lê Văn Quyền, vợ Quyền là Phan Thị Trí người Xuân Sơn Đô Lương, Quyền sinh Văn Quý, Văn Thọ, Văn Phúc. Hiện nay các cháu đã có nghề nghiệp ở thành phố  Hồ Chí Minh.
        -  Thị Liên lấy Võ Văn Hồng người xã Phong Thịnh, Thanh Chương sinh ra Văn Quang, Thị Thuỷ, Văn Hậu, Văn Hiển, Thị Nga, Thị Hà.
        -  Thị Minh cán bộ lâm trường Đô Lương, chồng  Đào Văn      con Đào Văn Chiến nhà ở xã Hoà Sơn, Đô lương.
       -   Thị Tính giáo viên tiểu học chồng là Nguyễn Văn Thái giáo viên Trung hoc cớ sở xã Thanh Giang, Thanh Chương. sinh con Văn Việt,Văn Nam.
       -   Văn Thịnh cán bộ ngân hàng tỉnh Phú Yên vợ là Nguyễn Thị Hoa giáo viên THCS  người Thanh Hoá sinh con Lê Chí Đạt, Lê Chí Đại.
       -   Văn Vượng làm nông nghiệp tại quê nhà vợ là Nguyễn Thị Hoà người trong xã sinh con la Thị Cam, Văn Ban, Văn Lành.
      -   Thị Lương giáo viên tiểu học chồng là Phan sĩ Tuân sĩ quan quân đội người xã Lĩnh Sơn, Anh Sơn con là Thị Bích Hằng,Thị          nhà ở tinh Bình Dương
      -  Anh Lý còn có con riêng là Lê Văn Liễu con o Nguyễn Thị Vinh con bà Em ( o Đàn) sinh sống ở Nghĩa  Đàn.
          Th 3.- Chị mất sớm mộ cải táng tại nghĩa trang họ Bùi Xuân, mộ chí ghi Nữ vong họ Phan Đình.
          Thứ 4.- PHAN THỊ TỬU sinh giờ hợi ngày 13-3 1933 (18-2- Quý dậu) làm nông nghiệp tính tình chất phác, cương trực thật thà, xây dựng gia đình với anh Đậu đình Hoà giáo viên PTTH con ông Đậu Đình Tâm người xã Thạch Sơn sinh con là:
        - ĐậuThị Hà cán bộ sở công nghiệp tỉnh Bình Dương chồng là Bùi  Đức Đông con ông Bùi Đức Chiêu trong xã. giám đốc xí nghiệp khai thác đá sinh con là Đức KAnh đại học công nghệ thông tin vợ là Thị Phượng sinh con gái là Trúc Anh, con trai thứ 2 của Hà là Đức Hưng. Bố con sinh sống làm việc ở tỉnh Bình Dương.                   
        - Đậu Đình Hùng đại học địa chất, trạm trưởng thuỷ văn Dừa, Anh Sơn, vợ là Huỳnh Thị Thơm quê ở huyện Vân Canh miền Nam, giáo viên tiểu học Anh Sơn, Hùng sinh con là Đình Huy tốt nghiệp đại học công nghệ thông tin công tác ở Hà Nội, Thị Huyền tốt nghiệp đại học môi trường. Nhà Hùng ở xã Thạch Sơn, Anh Sơn
        -  Đậu Đình Trung làm nông nghiệp di cư vào Ba Rịa- Vụng Tàu vợ là Thị Nga người xã Cẩm Sơn, Anh Sơn giáo viên mầm non, sinh con là Thị Yến, Đình Duy, Đình Tân, Đình Phú
          - Đậu Thị Nhung giáo viên tiểu  học chồng là Hoàng Văn Ngà sĩ quan quân đội ở xã Hội Sơn, Anh Sơn sinh con là Thị Như, Văn Đạt
        - Đậu Thị Bình giáo viên tiểu học chồng là Phan Văn Thành quê Yên Thành giáo viên tiểu học, sinh con là Thị Quỳnh Trâm, Thị Quỳnh Mai. Nhà ở huyện Yên Thành 
          Th 5.- PHAN ĐÌNH ĐỆ sinh giờ tuất ngày 29-6-1935 (29-5 - ất hợi) tại làng Thanh Lạng, xã Lãng Thạch nay là xã Thạch Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An. Tốt nghiệp đại học sư phạm toán trường đại học SP Vinh, tốt nghiệp chương trình lý luận chính trị cao cấp tại trường Nguyễn ái Quốc V khoá I. Con trai thứ 2 của ông Phan Đình Huề và bà Bùi Thị Sưu. Kết nạp Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 25-5 1967. Ông được cha mẹ nuôi ăn học tốt nghiệp lớp 10/10 phổ thông khoá đầu tiên. Trước cách mạng cha dạy học tại làng Dương Xuân (nay là xã Lĩnh Sơn,  Anh sơn) đã đem ông học hương trường Dương xuân trường cha dạy. Sau cách mạng tháng tám ông lại theo cha đi học tại xã Anh Dũng tốt nghiệp tiểu học, rồi lên học trung học đến đệ nhị niên cải cách giáo dục học hết cấp ba phổ thông trường Huỳnh Thúc Kháng Nghệ an. Quá trình công tác:
    - Tháng 9-1953 đến 1958 giáo viên vở lòng, cấp1, Bổ túc văn hoá cấp 2  tại xã Thạch Sơn
    - Tháng 9-1958 đến 1959 giáo viên cấp 2 Yên sơn, Anh Sơn
    - Tháng 9-1959 đến 1960 giáo viên cấp 2 xã Phúc Sơn, Anh Sơn.
    - Tháng 9-1960 đến 1961 giáo viên cấp 2 Hùng Sơn, Anh Sơn
    - Tháng 9- 1960 đến 1963 uỷ viên thường trực công đoàn giáo dục Nghệ An
    - Tháng 9-1963 đến 1965 Hiệu trưởng trường cấp 2 Hùng Sơn, Anh Sơn
    - Tháng 9-1965 đến 1972 Phó phòng giáo dục Anh Sơn, thư ký công đoàn Giáo dục Anh Sơn
    - Tháng 9-1972 đến 1975 Trưởng phòng giáo dục Anh Sơn kiêm thư ký công đoàn giáo dục Anh Sơn
    -Tháng 9-1975 đến 1993 Trưởng phòng giáo dục Anh sơn.
   - Tháng 12-1993 nghỉ  hưu tại xã Thạch Sơn
   Nhiều năm là bí thư đoàn trường học, bí thư chi bộ, hội đồng nhân huyện, uỷ viên uỷ ban nhân dân huyện, huyện uỷ viên, uỷ viên mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Anh Sơn
   Ông nhiều năm đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp huyện, tỉnh đâ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, huy chương vì sự nghiệp giáo dục, huy chương vì sự nghiệp  công đoàn và nhiều bằng khen của bộ giáo dục, tổng công đoàn, tỉnh huyện, huy hiệu 30-  40 tuổi Đảng
      Ông là một người hiền lành đôn hậu, khiêm tốn trung thực, nhiệt tình, sáng tạo, năng động trong công tác. Suốt đời vì sự nghiệp giáo dục cả một quá trinh gần 30 năm là cán bộ lãnh đạo ngành  giáo dục Anh Sơn không có một sai phạm  nhỏ nào. Vì thế ông được mọi người, giáo viên, cán bộ Anh sơn tin tưởng, kính trọng,  quý mến. Nghỉ hưu về sinh hoạt địa phương ông còn tham gia công tác phó chủ tịch trực hội khuyến học xã, sinh hoạt Đảng đầy đủ nghiêm túc.
       Tiểu sử bà:
    Bà tên là Bùi Thị Hoàn sinh ngày 19-10-1938 ( 26-8-Mậu dần ) tại xã Thạch Sơn, Anh Sơn, Nghệ An . Con gái đầu của ông Bùi Đức Hợp, bà Bùi Quang Thị Em xã Thạch Sơn. Em của bà là Bùi Đức Huê hiệu trưởng trường trung học cơ sở nghỉ hưu, Bùi Đức Lan phó phòng giáo dục nghỉ hưu, Bùi Thị Phượng chuyên viên phòng giáo dục, Bùi Thị Hoè phó giám đốc ngân hàng chính sách tỉnh Bình Dương.
    Từ năm 1956 đến 1987 giáo viên trường tiểu học xã Thạch Sơn, nghỉ hưu. Trong quá trình đó bà đã tham gia các công tác kiêm nhiệm như ban chấp hành đoàn xã, hội đồng nhân xã, tín dụng xã, hiệu trưởng trường vở lòng. Bà hiền lành chất phác trung thực được mọi người yêu mến. Được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, huy chương vì sự nghiệp giáo duc, bằng khen bộ giáo dục và nhiều bằng khen giấy khen khác .
    Ông bà đã nuôi con ăn học đến nơi đến chốn xây dựng gia đình trưởng thành gia thất. Các con là:
          1.-Phan Thị Bình Khang sinh lúc 12 giờ ngày 16-8-1965 (20-5-ất tỵ) Tốt nghiệp cao đẳng sư phạm  Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, giáo viên tiểu học Anh Sơn, chồng là Trần Văn Khai đại học sư phạm hiệu trưởng trường tiểu học, con ông Trần Văn Khoái thường trực hội đồng nhân dân huyện nghỉ hưu ngươì xã Long Sơn, Anh Sơn. Sinh con Trần thị Thanh Nga năm 1987 tốt nghiệp đại học ngân hàng công tác ở  Hà Nội, Trần  Thị  Huyền Trang. Nhà ở Long Sơn, Anh Sơn.
          2.- Phan Đình An sinh 7giờ 30 ngày 15-1-1971 (19-12- Canh dần) Thạc sí toán khoá đầu tiên của Đại học Vinh, Đảng viên Đảng Cộng Sản, Hiệu trưởng trường trung học phổ thông Anh Sơn 3. Vợ là Đinh Thị Phương đại học sư phạm toán, đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, giáo viên trường trung học cơ sở Anh Sơn (trường chuyên ) con ông Đinh Sĩ Aí cán bộ thương nghiệp nghỉ hưu (ông bà đã mất) ở xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá  có anh là Đinh Sĩ Đạt hiệu trường trường trung học phổ thông Ban mê thuật, Anh Đinh Sĩ Tiến công tác ở Hà Nội, Anh Đinh Sĩ Bảo giáo viên trường trung học phổ thông Hậu Lộc, Thanh Hoá, Chị Đinh Thị Ngọc giáo viên tiểu học Ban Mê Thuật, em Đinh Thị Thiện giáo viên tiểu học Ban Mê  Thuật. 
       Phan Đình An sinh: + Phan Đình Thi sinh hồi 4 giờ 30 ngày 7-9-1993 (21-7- Quý dậu), lúc 4, 5 tuổi đã biết chữ, đọc thông suốt sách báo, học phổ thông đều đạt học sinh giỏi giải nhất tỉnh tiểu học , trung học cơ sở, trung học phổ thông, thi đỗ lớp 10 chuyên toán trường bộ và trường Phan Bội Châu ( học chuyên toán trường chuyên trung học phổ thông Phan Bội Châu - Nghệ An), hiện nay sinh viên khoa kinh tế đối ngoại trường đại học ngoại thương Hà Nội khóa 2011 – 2012 (Thi đỗ hai trường Ngoại thương và đại học y Hà Nội được UBND tỉnh tuyên dương khen thưởng truyền hình trực tiếp cho nhưng học sinh đỗ 27 điểm trở lên) .
                               +  Phan Đinh Văn sinh lúc 7 giờ ngày 22-7-1999 (10-6- Kỷ  mạo)
          3.- Phan Thị Thanh Tâm sinh 11 giờ ngày 14-7-1973 ( 15-6-Quý sửu) tại xã Thạch Sơn, đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam, Đại học sư phạm hoá hiệu phó trường trung học cơ sở Hùng Sơn huyện Anh Sơn, chồng Đinh Văn Đàn thiếu tá quân y sĩ đảng viên, nghỉ hưu con ông Đinh Văn Đồng xã Thanh Dương, Thanh Chương  sinh con Đinh Văn Việt Anh năn 1997, Đinh Thị Quỳnh Hoa sinh năn 2004. Nhà ở thị trấn Anh Sơn.
          4.- Phan Thị Thu Trà sinh 10 giờ ngày 8-6-1978 (3-5-Mậu Ngọ ) Đại học sư phạm ngoại ngữ, đảng viên đảng cộng sản, giáo viên trung học cơ sở Anh Sơn, chồng Trần Văn Thìn đảng viên, đại  học sư phạm giáo viên trung học cơ sở Anh Sơn con ông Trần Văn Tri, ở xã Diễn  Lâm, Diện Châu cán bộ  lâm trường Quỳ Châu nghỉ hưu, định cư ở xã Châu Hạnh Quỳ Châu, Trà sinh con Trần Thị Châu Anh  3 giờ ngày 30-11- 2003 (7-11- Quý mùi).
        Thứ 6.- PHAN ĐÌNH ĐƯỜNG
          Tiểu sử ông:  Ông tên là Phan Đình Đường con thứ sáu ông Phan Đình Huề. Ông sinh giờ thìn ngày 6-7-1937 (28-5-Đinh Sửu)  tại xã Thạch Sơn, Anh Sơn, đảng viên đảng Cộng sản, tốt nghiệp trung học sư phạm tại tỉnh Hà Tây, năm 1960 dạy trường cấp 1 xã Trung hoà, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây nay là Hà Nội, uỷ viên ban chấp hành công đoàn tỉnh Hà Tây, đến năm 1972 chuyển về Anh Sơn, Nghệ An hiệu phó trường cấp 1,2 xã Long Sơn, Khai Sơn rồi hiệu trưởng trường cấp 1 nhà máy xi măng, nhiều năm kiêm nhiệm chủ tịch công đoàn trường học, ban chấp hành công đoàn huyện, nghỉ hưu năm 1991. Tính tình ông thật thà giản dĩ, trung thành một con người đức độ được mọi người yêu mến. Ông được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, huy chương vì sự nghiệp giáo dục, huy chương công đoàn, bằng khen bộ giáo dục và nhiều giấy khen tỉnh huyện.
           Tiểu sử bà:
     Vị hiêu:  Hiển tỷ tiền tòng nông nghiệp, hội viên hội phụ nữ, hội viên hội người cao tuổi, hưởng thọ sáu mươi lăm tuổi, Phan chính thất, Trần Thị Minh huý Trường hiệu từ thiện nhụ nhân chi linh.
      Bà tên là Trần Thị Minh con út ông Trần Văn Tiệu người xã Thạch Sơn, anh em bà có chị là bà Mỹ con bà cả, anh Trần Văn Tợu, Chị Trần Thị Thanh con bâ kế. Bà con người thật thà chất phác, siêng năng cần mẫn chăm chỉ việc đồng áng nuôi dạy con cái, tham gia công tác kháng chiến đi dân công tiền tuyến  Được thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng hai. Bà mất ngày 1 – 2 - Nhâm ngõ) 6-12-2002)
    Ông bà sinh hạ 4 trai 1 gái :
         - Phan Đình Diệu sinh năm 1961 tốt nghiệp cấp 3 phổ thông, công nhân điện lực Hà Nội nghỉ việc theo chế độ trợ cấp một lần. Vợ là Trần Thị Hoài con ông Trần Văn Hào xã Long Sơn . Diệu sinh Phan Đình Kỳ năm 1988, Phan Thị Thuỳ  sinh năm 1991, Thị Thư sinh năm 1993. Nhà tại thị trấn Anh Sơn.
         - Phan Đình Hiếu sinh năm 1966 tốt nghiệp trung cấp thiết bị trường học vợ là Đặng Thị Loan con ông Đặng Đình Năm xã Phúc Sơn sinh con Phan Thị Huyền Trang năm 1994, Đình Anh sinh năm 2001 nhà thị trấn Anh Sơn
         - Phan Thị Hiền sinh năm 1970 tốt nghiệp đại học sư phạm hiệu phó trường tiểu học huyện Chư mừng nga - Đắc Lắc chồng là Nguyễn Sĩ Vinh cán bộ lâm trường tỉnh Đắc lắc con ông Nguyễn Sĩ Thuỳ xã Hoa Sơn, Anh Sơn sinh con Nguyễn Sĩ Trung Đức năm 1994, Nguyễn  Quốc Khánh năm 1999, sinh sống tại Đắc Lắc.
        -Phan Đình Dũng sinh năm 1972 tại ã Thạch Sơn, Anh Sơn, Nghệ An trình độ văn hoá 10/10, công nhân nhà máy xi măng Anh Sơn, vợ là Trần Thị Hiệp con ông Trần Văn Kỷ người xã Phúc Sơn, Anh Sơn, Nghệ An. Sinh con là Đình Mạnh, Đình Tuấn
      - Phan Đình Tiến sinh năm 1976 kỹ sư hóa thực phẩm công tác tại nhà máy dầu thực vật Vinh, vợ là Hoàng Thị Hiền đại học mầm non, giỏo viờn mầm non Vinh, con ông Hoàng Đình Dụy người Nam Đàn hưu trí tại Vinh, sinh con là Phan Thị Giang, Phan Thị Ngân. Nhà ở khu phố Quang Trung Vinh
      Th 7.- PHAN THỊ HƯƠNG ( tên khai sinh Tương ) sinh giờ tý ngày 20-7-1940 (16-6-Canh thìn), thương binh, đảng viên Đảng Cộng Sản, tham gia công tác địa phương nhiều năm như chấp hành đoàn xã, phụ nữ xã, đội trưởng sán xuất hợp tác xã nông nghiệp, du kích, hợp tác xã may mặc, dân công hoả tuyến ở Lào được thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba.Chồng là Nguyễn Phương Đức đại học sư phạm giáo viên cấp 2 nghỉ hưu, người xã Thanh Hưng, Thanh Chương sinh con là:
     - Nguyễn Phương Sơn sinh năm 1975 trung cấp viễn thông công tác tại viễn thông Đà Nặng.
     -  Nguyễn Phương Long sinh năm 1977 đại học thuỷ văn ở trạm phó trạm thuỷ văn Dừa vợ là Phan Thị Nghĩa y sĩ bệnh viện Anh Sơn con ông Phan Sí Quyền người xã Lĩnh Sơn, Anh Sơn sinh con là Nguyễn Phương Thảo
    Nguyễn Thị Quỳnh Phương sinh năm 1980 cán bộ trường nhân đạo huyện Đô Lương.
    Ông Nguyễn Phương Đức có con riêng (bà cả Phan Thị Nghĩa) là Nguyển Phương Hưng cán bộ ngân hàng Hà Nội.
          Th 8.- PHAN THỊ CHƯƠNG sinh giờ hợi ngày 8-5-Quý mùi ( 10-6-1943), tôt nghiệp cao đẳng sư phạm, giáo viên phổ thông cấp 2 huyện Anh Sơn nghỉ hưu chồng là Nguyễn Công An kỹ sư nông nghiệp người xã Minh Sơn huyện Đô Lương con ông Nguyễn Công Hườm sinh con la Nguyễn Thị Lương Cao đẳng thiết bị trường học nhà tại thị trấn Anh Sơn.
    Ông Nguyến Công An lấy bà vợ 2 ở quê xã  Minh Sơn - Đô Lương, sinh thêm 1 gái và 1 trai.
       Th 9.- PHAN ĐÌNH DƯƠNG sinh giờ tý ngày 19-12-1950 (11-11- Canh dần)  tốt nghiệp sư phạm trung cấp, giáo viên cấp 2 Anh Sơn đã tình nguyễn nhập ngũ ngày 2-8-1969, chức vụ tiểu đội phó, trung sĩ thuộc tiểu đoàn 7 KB vào miền Nam chiến đấu năm 1969, hy sinh ngày 28-8-1972 (20-7-Nhâm tý) theo giấy báo của tỉnh đội Nghệ An, nhưng theo sổ liệt sĩ của quân khu 7 (thành phố Hồ Chí Minh) thì hy sinh ngày 18-8-1972 (10-7- Nhâm tý) tại thị trấn Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nên trước đây giổ vào ngay 20-7 thì nay giổ vào ngày 10-7 hàng năm. Còn mộ thì theo nhà tâm linh Nguyễn Thị Nghĩa  tại tỉnh Ba Rịa -Vụng Tàu thì mộ đã được nhà nước quy tập tại nghĩa trang huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai ông Đường đã nhận và ghi tên lên phần mộ bằng sơn. Ông được nhà nước tặng danh hiệu liệt sĩ với Bằng tổ quốc ghi công, huân chương chiến công hạng 3, huân chương giải phóng, huân chương kháng chiến hạng ba. Bảng gia đình vẻ vang.
   Vị hiệu:  Tiền học nghiệp khí trúng thập niên tốt nghiệp tòng quân nhập ngũ chiến Mỹ tặc trận vong tại Nam Bộ niên nhị thập tam tuế Phan quý công quý Dương cương trực chi linh phủ quân.
   Nghĩa là; Ông trước tốt nghiệp lớp 10/10 phổ thông tòng quân nhập ngũ đánh giặc Mỹ hy sinh tại Nam Bộ ông  tên là ông Dương.

Ghi chú: Gia phả này biên chép theo trực hệ như sau:

Đời 1.    Hầu Giám sinh:
Đời 2.    Hầu Hàn sinh:
Đời 3.    Tử Vân sinh:
Đời 4.    Đ Cư sinh :
Đời 5.    Đ Hắc sinh : Đ Lương. Tuấn Nghệ, Phan Duy
Đời 6.    Đ Lương sinh :
Đời 7.    Đ Nên sinh :
Đời 8.    Chính Đạo sinh : Đ Nước, Đ Quế, Cửa Tiên Hội, Cửa Yên Thành
Đời 9.    Đ Nước sinh :
Đời 10.  Đồng Thanh sinh : Đ Thụ, Đ Nhậm, Đ Bá, Đ Bạng. Đ Hành, Đ Chao
Đời 11.  Đ Nhậm sinh  : Đ Phương, Đ Thuân, Đ Thích sinh)
Đời 12.  Đ Phương sinh :
Đời 13.  Đ Lan sinh :
Đời 14.  Đ Biền sinh : Đ Mậu, Đ Hữu,  Đ Lịch , Đ Doãn
Đời 15.  Đ Lịch sinh : Đ Côn, Đ Hoành, Đ Trác, Đ Tiệu
Đời 16. Đ Trác sinh: Đ Trạc, Đ Huề, Thị Các, Thị Em, ĐTrọng Đống, ĐThúc                                                                                                                                                                                                                                                 Tài                                                                                                     
Đời 17. Đ Huề sinh : Đ Phê – Thị Nữu, Thị …,Thị Tửu, Đ Đệ, Đ Đường, Thị Hương, Thị Chương, Đ Dương)
Đời 18.  Đ Đệ sinh : Thị Khang, Đ`An, Thị  Tâm, Thị Trà)
Đời 19.  Đ An sinh :
Đời 20.  Đ Thi, Đ Văn

            
TỜ TRÌNH PHỔ KÝ
(Dịch nghĩa bản chữ Hán)

      Chúng tôi là Phan Đình Mùi, Phan Tuấn Khoan, Phan Duy Nhã họp ba chi họ Phan ở hai xã: Hiến Lãng, Phong Sơn tổng Đại Đồng, huyện Nam Đường, phủ Anh Sơn, xin trình bày ngọn ngành sự việc: Nguyên phần mộ hai vị tiên tổ và cả hai vị phu nhân cùng đền miếu, nhà cửa trước và sau ở các xứ ghi trong phổ ký hồi Quang Thiệu (1516 – 1522) để lại đã có nhiều chỗ rách nát, thiết nghĩ và lo lắng, sợ về lâu về xa xem xét, vì vậy xin kính mời:
       Các vị quan viên văn thân, cai tổng cũ và mới, lí trưởng các xã trong toàn tổng hội họp lại để xin đem bản sao phổ ký rách nát để ghi chép lại sau này. Kính xin chứng kiến và xác thực cho cả chữ ký và đóng dấu làm bằng để cho họ chúng tôi làm bằng cứ.
    Kê: - Nhất thái thỉ tổ khảo Giám sát ngự sử lịch nhậm Hiến sử kiêm Thập tam đạo thừa tuyên Hành khiển Phan tướng công. Phần mộ táng ở rú Tràng Học, thuộc địa phận thôn Bàu Dày, xã Nông Ná, nay đổi là Phú Thọ, xã Nông Sơn (nay là Thanh Phong) từ đỉnh núi đến lạch hói, không biết mộ táng nơi nào.
               - Tổ tỷ Giám sát phu nhân. Phần mộ táng tại Dạ Sơn gọi là cồn Nhà Hằng
thuộc địa phận thôn Tri Lễ, xã Hiến Lãng (nay là Thanh Hưng)
              - Nhất đại tổ khảo yên dân lợi vật, quản Sơn Tây Hàn Lâm đại thần bao phong sắc tặng hiển thánh đại thần đại vương. Phần mộ táng tại núi Bàu Rò, xã Phong Sơn không biết chỗ nào.
              - Tổ tỷ Hàn Lâm phu nhân mộ táng tại núi Nhà Hằng xã Hiến Lãng (nay xã Thanh Hưng) ở đó cùng phần mộ Giám Sát phu nhân về phía Bắc cách 161 trượng, mộ không rõ cụ thể nơi nào.
              - Nhất thượng thế âm miếu thế tổ: Phân mộ tĩnh táng ở Chọ Sơn thuộc địa phận thôn Tri Lễ, theo đó giám thủ cho đến cây cối sầm uất. Từ một đỉnh núi trên từ Cây Thị giáp Cồn Cao xuống hói Lạch Chọ. Hai bên giáp ruộng nước. Theo trước núi ấy có hai tên gọi: Một đỉnh là mộ địa của bản tộc đời sau lại táng mộ bốn ngôi đều có bằng chứng (dự đoán là nơi táng mộ tứ thân do Hầu Hàn đưa từ Hà Tĩnh ra)
              - Nhất nguyên trước là nền móng một khu bốn mẫu ba sào, hai ao liền nhau. Sau khi di cư ra xã Hiến Lãng, chốn ấy giao trưởng chi ở Diên Tràng giám  thủ , ở đó có vườn ao cây cổ thụ (hiện nay còn dấu vết và tên gọi địa phương là ao Dương Bạn gần chợ Nông, cây cổ thụ là cây trôi rất lớn và đã bị đổ từ lâu.
              - Nhất Thiệu Long năm thứ ba (Trần Thánh Tông 1261 có xây dựng mọt cơ ngơi ở vùng Bàu Dầy ( sau gọi là Phú Thọ) lập trường học gọi là núi Trường Học, hiện còn đền miếu hai tòa. 
           Vua Tự Đức năm thứ hai lăm ngày mười chín tháng giêng (1872)
                                                   Y chiếu (có dấu ấn của Anh Sơn)
        
    Trong tờ trình này có danh sách, chữ ký của người thay mặt họ và phía các người chức trách đương thời ghi lại như sau:
- Trưởng tộc Ngọc Hiên Phan Đình Mùi ký
-Trưởng tộc Tri Lễ Phan Tuấn Khoan ký
-Trưởng tộc Thanh Bang Phan Duy Nhã ký
-Viết tờ trình Phan Đình Giảng ký – Phan Đình Sử ký
-Phan Đình Mậu ký                         - Phan Tuấn Tự ký
-Phan Đình Phẩm ký                       -  Phan Tuấn Nghiên ký
-Phan Như Xuân ký                         -  Phan Duy Minh ký
- Lời phê của chức trách:
     Bản nguyệt nhật, bản tổng quan viên văn thân, tổng lý đồng hội cử kiến cai tộc trí bằng mạt hạ nội tự cứu phổ tàn hủy, xuất trình đối chiếu xác thực hủy liệt chi trình tự nhất y hủy phổ nhi cai tổng tộc tiền tổ thỉ Nhân Thần  nhị vị sử ứng ký giao cai tộc phương thỏa tư chú từ :
     Tú tài Nguyễn Đình Ký                 -Tú tài Nguyên Nho ký
     Tú tài Lê Văn Lập                         -Tú tài Ngô Trí Nhã ký
     Tú tài Trần Võ Quán Ký               -Tú tài Đinh Xuân Dục ký
     Tú tài Nguyễn Đức Bản ký           -Tú tài Nguyễn Văn Trác ký
     Cữu cai tổng Nguyên Thế Vĩ ký  -Cữu cai tổng Nguyễn Hoàng Chấn ký
     Đại Đồng xã lý trưởng Trần Văn Sắc ký (Đóng dấu)
     Di Luân thôn lý trưởng Trần Văn Dào ký (Đóng dấu)
     Hiến Lạng xã lý trưởng Phan Văn Hiệp ký (Đóng dấu)
     Phong Sơn xã lý trưởng Phan Văn Tuyển ký (Đóng dấu)
     Lạng Khê xã lý trưởng Nguyễn Văn Đức ký (Đóng dáu)
     Phúc Long thôn lý trưởng Nguyễn Danh bản ký ( Đóng Dấu)


BẢN TRÌNH SỰ TÍCH LINH ÚNG
 (Cầu mưa)
(Dịch nghĩa bản chữ Hán)

       Chúng tôi là các bậc lão nhiêu, hương lão, hương hào toàn làng Ngọc Hiên, xã Hiến Lãng, tổng Đại Đồng, huyện Nam Đường, phủ Anh Sơn xin khai trình:
       Bởi được trát trên sức xuống trong hạt phải hết lòng thành kính cầu xin mưa xuống, nay được mưa thì khai trình lên. Nhân thừa trát sức ấy, chúng tôi xin thừa khai sau:
       Nguyên theo lệ cũ của dân xã, có ba thôn: Tri Lễ, Thọ Sơn, Ngọc Hiên. Nhưng về thần hiệu, miếu điện thì riêng dân làng chúng tôi phụng tự các vị linh thần là:
      -  Bản xứ Cao Sơn Cao Các kiêm Đô Tổng Thưởng Sơn nhạc Hùng Nghị, uy dũng hiển ứng Mạc Sơn thủ lĩnh truông Hến bao phong Trạc linh thành hoàng (miếu tại Hến Sơn – rú Hến).
      -  Bản xứ Cao Sơn Cao Các Bạch Sơn Bao Phong Bảo Cảnh đại thần. Miếu tại Bạch Sơn
      - Giám sát ngự sử lịch nhậm Hiển sử kiêm thập tam đạo thừa tuyên Hành khiển đại thần. Miếu tại Học Sơn.
      - Bản xứ yên dân lợi vật quản Sơn Tây Hàn lâm, Bao Phong hiển thánh đại thần đại vương. Miếu tại Tràng Học Sơn.
      Nhân dân làng Ngọc Hiên phụng thờ bốn vị từ trước tới nay phàm có việc đến cầu xin đều được ứng. Nay dân làng thừa trát sức, vào ngày mười lăm tháng này đều đến linh miếu các vị thần kể trên đốt hương cầu kín (mật đảo) mong được may mắn ơn thần ban cho. Qua sang ngày mười sáu, cuối giờ ngọ được trận mưa đến giờ thân thì mưa ngớt, nước vừa được líp thíp rồi chiều tối hôm đó (ngày mười sáu) dân làng lại đốt hương cầu xin tiếp, thế là qua ngày hôm sau, ngày mười bảy, đầu giờ vị lại được trận mưa to chứa chan tràn trề, đến giờ thân thì mưa ngớt. Đi rảo vòng quanh các nơi miếu đền đều thấy việc cày bừa cấy chiếc được thuận tiện, chỉ có nơi núi cao thì được ít hơn, mới líp thíp nước.
       Nay thừa sức dân làng xin thành thật khai trình. Mong được xét và phê chuẩn để dân làng làm bằng chứng về sự tích linh ứng của các vị thần linh như đã khai trình.
      Nay thừa khai, y bằng có dấu đóng của quan phủ Anh Sơn.
                        Vua Tự Đức thứ ba mươi mốt (1878) ngày 19 tháng 6.
Lão nhiêu Lê Cơ ký.                   Hương lão Phan Đình Sử ký.
Viết tờ khai Lê Ý ký.                   Hương hào Lê Nghị ký.
Hương hào Lê Luyện ký.            Trần Nhàn ký.
Phan Đình Phẩm ký.                   Lê Trác ký.
Lê Thân ký.                      Lý trưởng Phan Văn Hiệp ký (đóng dấu).

 Sắc phong của Vua ban cho Hầu Hàn (Giám sát ngự sử - Thập đạo tướng quân) 

Thật hiếm khi một dòng Họ biết được Thuỷ tổ của mình viết Gia phả cách đây gần 500 năm (năm Hồng Thuận 1509 - 1516), hiện giờ đã đến trên 30 đời...

. Trong dịp về cội nguồn tế Tổ tại Thanh Hưng - Thanh Chương, có lẽ do Tổ xui khiến tôi đã tiếp cận được rất nhiều địa điểm và thông tin do họ đàng trong cung cấp, thế là rất nhiều lượt tôi về Thanh Chương để ghi lại những thông tin và hình ảnh. Trình độ có hạn nhưng tôi cố gắng đem hết khả năng của mình để đăng tải lên hệ thống vi tính nhằm cho con cháu hướng về cội nguồn.

Ông cha ta từ trước tới giờ cứ đến kỳ giỗ dịp mồng 10 tháng Giêng, 3 năm một lượt các Chi cử người đại diện đi bộ, đi xe đạp vào tế lễ tại nhà thờ họ đại tôn thuộc thôn Ngọc Hiên - Tri Lễ xã Thanh Hưng huyện Thanh Chương . Đồng thời cũng trong ngày Rằm tháng Giêng sau đó họ đàng trong lại ra đàng ngoài tế lễ tại nhà thờ lớn họ đại tôn Phan Doãn Tộc ở xã Hoa Thành huyện Yên Thành.

Thuỷ tổ của dòng họ Phan ta tại Thanh Chương có nguồn gốc từ Hà Tĩnh ra, hiện nay Gia phả vẫn được lưu giữ. Gia phả gồm 3 cuốn được giao cho 3 Chi (1 ở Ngọc Hiên, 1 ở Tri Lễ và 1 ở xã Thanh Phong). Trong gia phả có đại diện 3 Chi ký nhận trước chính quyền lúc đó. Thuỷ tổ Hầu Hàn từ Hà Tĩnh ra nông ná tại Thanh Hưng và đưa mộ của Cha mình về an táng tại rú Trộ. Hai cha con đều học giỏi và thành đạt, có công với đất nước đánh đuổi ngoại bang, được phong rất nhiều Sắc. Các đời sau này như các ngài Hầu Tham, Hầu Khanh, Hầu Thiếu cũng được Sắc Phong. Thuỷ tổ từ Hầu Giám cho mãi tới 5 đời sau này đều độc Đinh với dòng họ là Phan Đình (mời con cháu xem kỹ ở phần viết Gia phả gốc).
Như vậy họ đại tôn Phan Doãn Tộc ở Yên Thành, Minh Sơn - Đô Lương, và Thanh Tiên - Thanh Chương là có nguồn gốc 1 trong 3 Chi lớn tại Thanh Hưng, Thanh Phong

                                                          Phim tư liệu
                                                (Bấm vào mũi tên để xem phim)

video
      Xin cảm ơn các bác các chú ở Ngọc Hiên đã ủng hộ chúng tôi đạt nguyện vọng
       Thực hiện: Phan Bá Ước (chi Yên Thành), Phan Sinh Hoá  (chi Thanh Phong)



1 nhận xét:

  1. Mọi thông tin xin liên hệ với Email: Phanuoc@yahoo.com.vn

    Trả lờiXóa